CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm về xếp hạng tín dụng Một số nghiên cứu cho rằng hoạt động XHTD và các tổ chức XHTD đánh dấu quá trình ra đời chính thức vào những thập niên 1860. Từ năm 1930 đến 1970, những thị trường vốn tư nhân tại Hoa Kỳ ngày càng phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là sự bùng nổ của việc đầu tư ngành đường sắt. Tuy nhiên thông tin minh bạch, có giá trị về tình trạng tài chính và các phân tích của các bên thứ ba độc lập đối với doanh nghiệp trong ngành này rất hạn chế đã gây khó khăn lớn cho các nhà đầu tư. Nhận thấy điều đó, vào năm 1860, Henry Varnum Poor (1812 -1905) phát hành ấn phẩm “ History of Railroads and Canals of the United States” cung cấp các thông tin về các công ty hoạt động trong lĩnh vực đường sắt, đường sông tại Hoa Kỳ.
Trong ấn phẩm này, các thông tin đầy đủ cùng ý kiến nhận định và đánh giá về uy tín của các doanh nghiệp của H.Poor được các nhà đầu tư tin tưởng sử dụng làm thông tin trong quá trình quyết định đầu tư của mình. Từ đó, ông cùng với người con của mình sáng lập Poor’s Publishing với vai trò cung cấp thông tin tài chính tin cậy về ngành giao thông vận tải. Song song với đó, vào năm 1906, Công ty phân tích Standard được thành lập và đến năm 1916 thì họ bắt đầu thực hiện đánh giá rủi ro về các trái phiếu doanh nghiệp. Đến năm 1941, Poor’s Publisshing và Standard Statistics sáp nhập hình thành nên Poor’s Publishing and Standard Statistics, ngày nay chính thức là Standard & Poor’s Ratings Services- một thành viên của tập đoàn Mc Graw Hill Financial.
Tương tự như quá trình phát triển của Standard & Poors, năm 1900, John Moddy và công ty của ông đã xuất bản ấn phẩm “Mood’s Manunal of Industrial and Miscellaneous Securities”, lần đầu đưa ra thuật ngữ “xếp hạng tín dụng” (Credit ratings) trong ấn phẩm này và cung cấp cho nhà đầu tư thông tin tài chính, các phân 5 tích và xếp hạng của một loạt các công ty cũng như các nhà phát hành chứng khoán nợ trong ngành công nghiệp theo một hệ thống ký hiệu gồm 3 chữ cái của ABC được xếp lần lượt là Aaa đến C. Năm 1913, Fitch Ratings cũng ra đời và là tổ chức đầu tiên sử dụng thống nhất và phổ biến các ký hiệu AAA cho đến D vào trong hệ thống đánh giá chứng khoán tài chính. Tuy nhiên XHTD chỉ phát triển nhanh ở Mỹ sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1929-1933 khi hàng loạt các công ty vay nợ bị phá sản, vỡ nợ. Thời kỳ này chính phủ Hoa kỳ đã có nhiều quy định về việc cấm các định chế đầu tư (các Quỹ bảo hiểm, Ngân hàng dự trữ) bỏ vốn đầu tư mua trái phiếu có độ tin cậy thấp dưới mức an toàn trong bảng xếp hạng tín nhiệm.
Những quy định này đã làm cho uy tín của các Công ty xếp hạng tín nhiệm ngày một lên cao. Song trong suốt hơn 50 năm, việc xếp hạng tín dụng chỉ được phổ biến ở Mỹ, chỉ từ những năm 1970 đến nay, dịch vụ xếp hạng tín dụng mới được mở rộng và phát triển mạnh ở nhiều nước. Cho đến nay việc sử dụng xếp hạng tín dụng trở nên rất phổ biến và đa dạng về mục đích, đối tượng xếp hạng nên cách nhìn nhận cũng như quan điểm về xếp hạng tín dụng đã có nhiều thay đổi. Chúng ta có thể điểm qua một số định nghĩa về xếp hạng tín dụng như sau: - Thuật ngữ “xếp hạng tín dụng” lần đầu được đưa ra bởi John Moody năm 1900 trong ấn phẩm “Moody’s Manual of Industrial and Miscellaneous Securities” cho rằng XHTD là ý kiến về khả năng và sự sẵn sàng của một nhà phát hành trong việc thanh toán đúng hạn cho một khoản nợ nhất định trong suốt thời hạn tồn tại của khoản nợ.
- Tổ chức xếp hạng tín nhiệm độc lập Standard & Poors cho rằng XHTD là trình bày các ý kiến về rủi ro tín dụng. Cụ thể là thể hiện ý kiến về khả năng và sự sẵn sàng của tổ chức phát hành (rating issuers) để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính đầy đủ và đúng hạn. XHTD cũng có thể đề cập tới chất lượng tín dụng của khoản nợ riêng lẽ hoặc đánh giá nguy cơ liên quan có thể bị tổn thất. 6 - Fitch Ratings khẳng định theo quan điểm của họ về XHTD là việc cung cấp ý kiến về khả năng tương đối trong việc đáp ứng các cam kết tài chính - chẳng hạn như lãi suất, cổ tức ưu đãi, trả nợ gốc, bồi thường bảo hiểm hoặc các nghĩa vụ đối với các đối tác của đối tượng được xếp hạng.
Các nhà đầu tư xem xét XHTD là dấu hiệu cho thấy khả năng nhận được tiền nợ theo quy định và các điều khoản khi họ đầu tư. - Theo định nghĩa của Công ty chứng khoán Merrill Lynch thì “XHTD là đánh giá hiện thời của Công ty xếp hạng tín nhiệm về chất lượng tín dụng của một nhà phát hành chứng khoán nợ, về một khoản nợ nhất định. Nói khác đi, đó là cách đánh giá hiện thời về chất lượng tín dụng đang được xem xét trong hoàn cảnh hướng về tương lai, phản ánh sự sẵn sàng và khả năng phát hành có thể thanh toán cả gốc và lãi đúng hạn. Trong kết quả XHTD chứa đựng cả ý kiến chủ quan của chuyên gia XHTD”.
- Theo Bond Jonh A thì XHTD là “sự đánh giá về khả năng của một nhà phát hành có thể thanh toán đúng hạn cả lãi lẫn gốc đối với một loại chứng khoán nợ trong suốt thời gian tồn tại của nó”. - Theo đĩnh nghĩa của Viện nghiên cứu Nomura (Nomura Reseach Institute) thì XHTD là sự đánh giá hiện thời về mức độ sẵn sàng và khả năng trả (gốc, lãi) đối với chứng khoán nợ của một nhà phát hành trong suốt thời gian tồn tại của chứng khoán đó. Từ các khái niệm trên cho thấy, cho dù đứng ở quan điểm nào thì việc XHTD cũng chứa đựng những yếu tố sau: Xác định khả năng trả nợ đúng hạn, các thứ hạng sẽ cho biết năng lực và thiện chí của con nợ thanh toán nợ lãi và nợ gốc đúng hạn theo đúng những điều khoản đã cam kết; Tính chất và các điều khoản cam kết; Bảo vệ các cam kết nợ để chúng có đủ sức và vị trí tương đối trong từng trường hợp phá sản mà không làm ảnh hưởng đến các quyền lợi của chủ nợ. 7 Như vậy, XHTD doanh nghiệp là một tiến trình đánh giá và phân loại mức độ tín nhiệm tương ứng với các cấp độ rủi ro khác nhau đối với trách nhiệm tài chính, hoặc đánh giá mức độ rủi ro tín dụng phụ thuộc các yếu tố bao gồm năng lực tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh hiện tại và triển vọng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp được xếp hạng, khả năng dễ bị vỡ nợ khi các điều kiện kinh doanh thay đổi, ý thức và thiện chí trả nợ của người vay.
Từ đó xác định được mức độ rủi ro không trả được nợ và khả năng trả nợ trong tương lai.2 Vai trò của xếp hạng tín dụng 1.1 Đối với Ngân hàng Thương mại Trong xu hướng hội nhập phát triển thì NHTM ngày càng phải đối mặt với rủi ro tín dụng lớn hơn, đòi hỏi phải có những biện pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro để đảm bảo an toàn cho toàn hệ thống. Trong xu thế đó, XHTD đóng một vai trò quan trọng. Nó trợ giúp Ngân hàng trong các vấn đề sau: Phục vụ quản lý tín dụng toàn hệ thống: XHTD hỗ trợ ra đánh giá chất lượng của toàn bộ danh mục tín dụng; hạn chế rủi ro vận hành trong quá trình cấp tín dụng; phân loại nợ trong ngân hàng. - XHTD sẽ trợ giúp Ngân hàng đánh giá chất lượng của toàn bộ danh mục tín dụng; xác định một cách hợp lý, chính xác tổn thất tín dụng theo từng dòng sản phầm hoặc lĩnh vực hay ngành nghề kinh tế; phân tích được rủi ro và lợi nhuận của các dòng sản phẩm.
Đây là điều kiện quan trọng để phát triển, hướng tới các khách hàng có ít rủi ro hơn, xây dựng danh mục tín dụng có chất lượng cao. Các mức xếp hạng là cơ sở để các Ngân hàng xây dựng quy trình tín dụng và chính sách khách hàng (xác định lãi suất, thủ tục tín dụng…) đồng bộ, rõ ràng, hiệu quả và nhất quán trên toàn hệ thống ngân hàng. - NHTM có thể thực hiện hạn chế rủi ro vận hành trong cấp tín dụng. Nhờ tích hợp các nguyên tắc, chính sách và tiêu chuẩn tín dụng căn bản của ngân hàng, hệ thống 8 XHTD tạo ra một căn cứ độc lập để ngân hàng đánh giá hiệu quả quá trình quản trị rủi ro của các bộ phận có trách nhiệm liên quan, bảo đảm chức năng cấp tín dụng được quản lý phù hợp, các tài sản có rủi ro tín dụng nằm trong giới hạn, thống nhất với các tiêu chuẩn thận trọng và khả năng phát hiện sớm các khoản tín dụng xấu.
- Xác định tỷ lệ nợ xấu mục tiêu: Thông qua các kết quả xếp hạng của khách hàng hiện tại giúp cho ngân hàng điều chỉnh chính sách tín dụng kịp thời nhằm kiểm soát tỷ lệ nợ xấu mà mình đặt ra. - Phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng: XHTD với cơ sở dữ liệu đầy đủ là căn cứ để phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo quy định tại Điều 7, Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN Việt Nam. Phân loại nợ tại các NHTM được thực hiện trên nguyên tắc nợ có rủi ro càng cao sẽ được xếp vào nhóm nợ thấp hơn nếu căn cứ trên kết quả XHTD của khách hàng. Việc này giúp các NHTM quản lý các khoản nợ và khách hàng vay đồng bộ, tiến tới quản trị danh mục cho vay tốt hơn, phát hiện sớm các trường hợp nợ có vấn đề và có hành động điều chỉnh phù hợp, làm cơ sở để trích lập dự phòng trong ngân hàng.
Ngoài ra, XHTD cũng trợ giúp Ngân hàng tính toán trích lập dự phòng rủi ro, phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính theo chuẩn mực báo cáo tài chính Việt Nam và quốc tế. Phục vụ quản lý tín dụng tại từng đơn vị cho vay: XHTD hỗ trợ ra quyết định tín dụng; xác định giới hạn tín dụng; định giá khoản tín dụng; giám sát và đánh giá khách hàng vay; kiểm soát rủi ro tín dụng; hạn chế rủi ro vận hành trong quá trình cấp tín dụng.