phần mở đầu và phần kết luận và danh mục tham khảo, đề tài đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: 5 Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về tín dụng và chất lƣợng tin dụng của Ngân hàng Thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng nâng cao chất lƣợng tín dụng tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Sài Gòn Hà Nội – Chi nhánh Lào Cai. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng tín dụng tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Sài Gòn Hà Nội – Chi nhánh Lào Cai. 6 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẪN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò tín dụng của Ngân hàng Thƣơng mại. Khái niệm tín dụng. Tín dụng ra đời cùng với sự xuất hiện của tiền tệ.
Khi một chủ thể kinh tế cần một lƣợng hàng hóa cho nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất khi chƣa có tiền hoặc số tiền hiện có chƣa đủ thì họ có thể đi vay để đáp ứng nhu cầu của mình. Có hai cách vay mƣợn: vay chính loại hàng hóa đó hoặc vay tiền để mua loại hàng hóa đó. Quan hệ vay mƣợn nhƣ vậy chính là quan hệ tín dụng. Tín dụng đã ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội.
Quan hệ tín dụng đƣợc phát sinh ngay từ thời kỳ chế độ công xã nguyên thủy bắt đầu tan rã. Khi chế độ tƣ hữu về tƣ liệu sản xuất xuất hiện, cũng là đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa. Thời kỳ này, tín dụng đƣợc thực hiện dƣới hình thức vay mƣợn bằng hiện vật - hàng hóa. Xuất hiện sở hữu tƣ nhân tƣ liệu sản xuất, làm cho xã hội có sự phân hóa: giàu, nghèo.
Khi ngƣời nghèo gặp phải khó khăn, họ phải đi vay những ngƣời giàu, những ngƣời giàu thì câu kết với nhau để ấn định lãi suất cao dẫn đến sự ra đời của tín dụng nặng lãi. Trong giai đoạn tín dụng nặng lãi, tín dụng có lãi suất cao nhất là 40-50%. Về sau, tín dụng đã chuyển sang hình thức vay mƣợn bằng tiền tệ. Cho vay, còn gọi là tín dụng, là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối tƣợng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thƣờng kèm theo lãi suất.
Do hoạt động này làm phát sinh một khoản nợ nên bên cho vay còn gọi là chủ nợ, bên đi vay gọi là con nợ. Do đó, Tín dụng phản ánh mối quan hệ giữa hai bên - Một bên là ngƣời cho vay, và một bên là ngƣời đi vay. 7 Quan hệ giữa hai bên ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, thỏa thuận thời gian cho vay, lãi suất phải trả,. Mác cho rằng: “Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu” Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác, với các nhà doanh nghiệp và cá nhân.
Trong nền kinh tế, Ngân hàng đóng vai trò là một định chế tài chính trung gian, vì vậy trong quan hệ tín dụng với các nhà doanh nghiệp và cá nhân, Ngân hàng vừa là ngƣời cho vay đồng thời vừa là ngƣời đi vay. Theo Luật các Tổ chức tín dụng của nƣớc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2004, quy định về hoạt động tín dụng và cấp tín dụng của TCTD nhƣ sau: “Cấp tín dụng là việc TCTD sử dụng nguồn v n t c nguồn v n huy động để cấp tín dụng. Tổ chức tín dụng được cấp tín dụng cho tổ chức cá nhân dưới hình thức cho vay chi t hấu thương phi u và giấy tờ c giá hác bảo l nh cho thuê tài chính và hình thức hác theo quy định c a Ngân hàng Nhà nước.” Theo Luật các Tổ chức tín dụng của nƣớc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2010, cấp tín dụng đƣợc diễn giải nhƣ sau: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức cá nhân sử dụng một hoản tiền hoặc cam t cho phép sử dụng một hoản tiền theo nguyên tắc c hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay chi t hấu cho thuê tài chính bao thanh toán bảo l nh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng hác. Đặc điểm tín dụng c a Ngân hàng Thương mại Huy động v n và cho vay v n đều th c hiện dưới hình thức tiền tệ: trong tín dụng ngân hàng, các Ngân hàng huy động các nguồn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trên thị trƣờng, nguồn tiền huy động đƣợc tạo thành một quỹ cho vay 8 của Ngân hàng.
Khi các tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng vốn của Ngân hàng thì Ngân hàng sẽ cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân này dƣới hình thức cho vay, chiết khấu thƣơng phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và hình thức khác. Nhƣ vậy tiền ở đây là công cụ thực hiện tín dụng, đó là công cụ lƣu thông tín dụng ngân hàng. Ngân hàng đ ng vai trò trung gian trong quá trình huy động v n và cho vay: trong quan hệ tín dụng với các nhà doanh nghiệp và cá nhân, Ngân hàng vừa là ngƣời cho vay đồng thời vừa là ngƣời đi vay. Với tƣ cách là ngƣời đi vay Ngân hàng nhận tiền gửi của các nhà doanh nghiệp và cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu để huy động vốn trong xã hội.
Trái lại, với tƣ cách là ngƣời cho vay thì Ngân hàng cung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp và cá nhân. Quá trình vận động và phát triển c a tín dụng ngân hàng hông hoàn toàn phù hợp với quy mô phát triển sản xuất và lưu thông hàng h a: Vốn tín dụng là bộ phận không thể thiếu trong quá trình vận động của mọi hoạt động xã hội nói chung và các hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng, nhƣng vốn tín dụng ngân hàng có tính độc lập tƣơng đối với quá trình tái sản xuất xã hội. Bởi vì vốn tín dụng ngân hàng có thể tham gia vào bất cứ một giai đoạn nào của chu kỳ vận động, ở giai đoạn đầu (dƣới hình thức các nhu cầu chi phí bằng tiền) và giai đoạn kết thúc (dƣới hình thức các khoản thu nhập bằng tiền của quá trình tái sản xuất). Do đó khi nền kinh tế ở trạng thái cân bằng (cân đối hàng hóa - tiền tệ) nguồn vốn tín dụng vận động theo sự vận động của các nguồn vốn của quá trình tái sản xuất (T - H hoặc H - T).
Nhƣng khi nền kinh tế phát triển đến một mức nhất định tất yếu nảy sinh mâu thuẫn trong quá trình chu chuyển vốn là nhu cầu vốn bằng tiền không tƣơng thích với nhu cầu hàng hóa trong trao đổi. Khi đó với chức năng "trung gian tín dụng" và với các công cụ huy động vốn, cho vay, thanh toán để góp phần đƣa nền kinh tế 9 về trạng thái cân bằng theo các mục tiêu cơ bản của nền kinh tế trong từng giai đoạn. Tín dụng ngân hàng thƣờng đƣợc coi là một công cụ hữu hiệu để thúc đẩy tăng trƣởng, hoặc điều chỉnh, kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế. Phạm vi hoạt động c a tín dụng ngân hàng là toàn bộ nền inh t.
Trong nền kinh tế thị trƣờng hầu nhƣ mọi quan hệ trao đổi đều có thể "tiền tệ hóa", do vậy với công cụ thực hiện chủ yếu là "quyền sử dụng tiền tệ" nên tín dụng ngân hàng có thể tham gia vào mọi quan hệ xã hội. Điều đó đƣợc biểu hiện ra bên ngoài là các NHTM có thể thực hiện huy động vốn tiền tệ, cho vay vốn và cung ứng các dịch vụ ngân hàng cho hầu hết mọi chủ thể trong xã hội. Tín dụng ngân hàng có thể thỏa mãn nhu cầu sử dụng tiền cho mọi đối tƣợng, mọi phạm vi, mọi khoảng thời gian của toàn xã hội, nhƣng phải nằm trong sự điều chỉnh chung của nhà nƣớc và pháp luật. Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tập trung và điều hòa v n giữa các ch thể trong nền inh t : Với vai trò là ngƣời trong gian trong quá trình huy động vốn và cho vay, các NHTM sẽ huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế và cho vay đối với các chủ thể cần vốn.
Vì vậy thông qua tín dụng, các NHTM đã góp phần vào sự điều hòa vốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Vai trò c a tín dụng c a Ngân hàng Thương mại Đối với NHTM Tín dụng là hoạt động chủ yếu mang lại nguồn thu nhập cho ngân hàng. Thu nhập từ tín dụng chủ yếu bởi chênh lệch giữa lãi cho vay với lãi suất huy động và ngoài ra cũng có một số các khoản phí khác theo quy định, khoản thu nhập này chiếm phần lớn trong tổng thu nhập của các NHTM. Do đó thu nhập từ cho vay có thể đƣợc xem nhƣ khoản thu nhập chính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
Tín dụng góp phần đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, mở rộng đối tƣợng và phạm vi đầu tƣ, góp phần giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh 10 doanh của ngân hàng. Thông qua hoạt động huy động vốn có nhiều sản phẩm dịch vụ nhƣ: dịch vụ thanh toán, dịch vụ ngân quỹ, dịch vụ thu hộ, chi hộ, dịch vụ ủy thác, dịch vụ két sắt,… và các dịch vụ tiền tệ khác có liên quan. Thông qua tín dụng các ngân hàng có thể đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ của mình, hoạt động cho vay ngân hàng có thể tạo ra các dịch vụ liên quan nhƣ: dịch vụ tƣ vấn, dịch vụ bảo lãnh, dịch vụ kinh doanh chứng khoán, kinh doanh ngoại tệ,…. Đối với dân cƣ Trong cuộc sống hàng ngày, luôn có những nhu cầu mua nhà, mua xe ô tô và những đồ dùng gia đình khác, nhƣng không phải ai cũng có đủ điều kiện về tài chính để có thể mua sắm theo mong muốn của mình, đặc biệt là thế hệ trẻ và ngƣời thu nhập thấp.