phần mở đầu và kết luận, luận văn này đƣợc chia thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Chƣơng 2: THỰC TRẠNG TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP LỚN TẠI VIETCOMBANK– CHI NHÁNH PHÚ THỌ Chƣơng 3:GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP LỚN TẠI VIETCOMBANK CHI NHÁNH PHÚ THỌ 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNGVÀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP LỚN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm và các hình thức tín dụng của Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm tín dụng của NHTM Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ la tinh là credo (tin tƣởng, tín nhiệm).
Trong thực tế cuộc sống thuật ngữ tín dụng đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, ngay cả trong quan hệ tài chính, tùy theo từng bối cảnh cụ thể mà thuật ngữ tín dụng có một nội dung riêng. Trong quan hệ tài chính, tín dụng đƣợc hiểu theo nghĩa sau: “Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng và sau một khoảng thời gian nhất định được quay trở lại người sở hữu một lượng giá trị lớn hơn ban đầu”. Đối với NHTM, tín dụng là hoạt động kinh doanh quan trọng nhất (thƣờng chiếm hơn 70% doanh số hoạt động), mang lại lợi nhuận chủ yếu, quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của NHTM. Trên cơ sở quy mô vốn tự có và giấy phép hoạt động của cơ quan có thẩm quyền, NHTM thực hiện hoạt động tín dụng đối với nền kinh tế.
Đó là việc NHTM thu hút các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội (vốn huy động, vốn đi vay, vốn hình thành trong quá trình thanh toán) và sử dụng nguồn vốn đó để cho vay, đầu tư, tài trợ cho các hoạt động kinh tế để kiếm lợi nhuận cho mình. Nhƣ vậy, hoạt động tín dụng của NHTM có hai mặt nghiệp vụ bao trùm là nghiệp vụ tạo vốn, còn gọi là nghiệp vụ bên Tài sản “Nợ” (NHTM phải “trả lãi” cho nghiệp vụ này) và nghiệp vụ sử dụng vốn, còn gọi là nghiệp vụ bên Tài sản “Có” (NHTM thu đƣợc lãi từ nghiệp vụ này). Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn, tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu một phần nghiệp vụ sử dụng vốn là nghiệp vụ cấp tín dụng của NHTM. Nghiệp vụ tín dụng của NHTM Theo quy định trong Luật các TCTD Việt Nam (các quốc gia khác cũng tƣơng tự), nghiệp vụ cấp tín dụng của NHTM bao gồm: a) Cho vay (Advance) Khi nói đến hoạt động tín dụng của các ngân hàng thƣơng mại, ngƣời ta thƣờng nghĩ tới cho vay và đôi khi đồng nhất thuật ngữ "cho vay" với thuật ngữ "tín dụng".
Thực ra khái niệm cho vay hẹp hơn tín dụng. Nhƣ đã đề cập ở trên, tín dụng có thể đƣợc thực hiện thông qua nhiều hình thức mà cho vay chỉ là một trong các hình thức cấp tín dụng mà thôi. Theo quy định trong Luật Các tổ chức tín dụng thì khái niệm cho vay đƣợc hiểu là: Cho vay là một hình thúc cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một số tiền để sử dụng vào một mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận, với nguyên tắc có hoàn trả cả vốn gốc và lãi. Từ khái niệm trên có thể nhận thấy một số đặc trƣng cơ bản của cho vay nhƣ sau: * Cho vay có hình thái tín dụng là tiền tệ.
Đây là điểm khác biệt với các hình thức cấp tín dụng khác nhƣ bảo lãnh hoặc cho thuê tài chính. Cho vay với hình thái tiền tệ đƣợc xem nhƣ một hình thức cấp tín dụng cổ điển của NHTM bởi vì nó xuất hiện từ rất sớm (ngay sau sự xuất hiện của chiết khấu). Với hình thái là tiền tệ, cho vay nhiều lợi thế hơn so với các hình thức tín dụng khác bởi vì nó có thể thỏa mãn mọi nhu cầu đa dạng của nhiều tầng lớp khác nhau trong nền kinh tế, trong xã hội. Cho đến nay, mặc dù ngân hàng đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với sự xuất hiện của nhiều hình thức tín dụng khác nhau, cho vay vẫn chiếm một tỷ lệ khá cao trong các loại hình tín dụng của ngân hàng.
* Bản chất của hành vi cho vay là ứng trước - Advance nên độ rủi ro cao Trong cho vay, ngân hàng chuyển tiền cho khách hàng dựa trên một dự định, một ý tƣởng kinh doanh khách hàng sắp thực hiện, hay nói khác đi là tiền đƣợc đƣa ra khi ngƣời vay chƣa/hoặc mới bắt đầu thực hiện ý định của mình. Việc cấp tín dụng đƣợc thực hiện sau khi ngân hàng xem xét, phân tích về tính khả thi, hiệu quả của ý tƣởng, mục đích sử dụng tiền của khách hàng. Tuy nhiên trong thực tế từ ý 8 tƣởng cho đến hiện thực là một khoảng cách gian nan, không dễ gì rút ngắn. Có thể xuất hiện rất nhiều biến cố tác động làm cho ý tƣởng, dự định đó không thành công và nguồn trả nợ không hình thành.
Vì vậy, độ rủi ro của cho vay là cao hơn so với các hình thức tín dụng khác. Thử hình dung trong trƣờng hợp ngân hàng cho khách hàng vay để kinh doanh, tiền vay sẽ đƣợc khách hàng sử dụng để mua vật tƣ, nguyên liệu, thanh toán các chi phí sản xuất. khi sản phẩm xuất bán và thu đƣợc tiền về khách hàng sẽ hoàn trả nợ. Trong quá trình kinh doanh nói trên, có rất nhiều rủi ro xảy ra từ khi khách hàng nhận tiền cho đến khi thực sự thu đƣợc hết nợ.
Chẳng hạn: khách hàng không mua đƣợc vật tƣ do những biến động của thị trƣờng nguyên liệu, khách hàng không sản xuất đƣợc do các điều kiện sản xuất thay đổi, khách hàng không bán đƣợc sản phẩm do ngƣời mua phá vỡ hợp đồng tiêu thụ, ngƣời mua nhận sản phẩm nhƣng chậm/ không trả tiền. thậm chí kể cả việc khách hàng thay đổi mục đích sử dụng tiền ban đầu dẫn đến thất thoát tiền vay. Tất cả những biến cố đó có thể làm cho một khoản vay không đƣợc hoàn trả nhƣ thỏa thuận ban đầu. Điều tƣơng tự cũng có thể xảy ra cho một khoản vay tiêu dùng khi ngƣời vay bị bệnh tật, tử vong, thất nghiệp, nguồn thu nhập giảm sút, ý muốn trả nợ thay đổi.và cuối cùng là khoản vay.
một đi không trở lại. Ngƣợc lại trong chiết khấu thƣơng phiếu khách hàng đã sản xuất xong hàng hóa, đã chuyển giao cho ngƣời mua và chỉ còn chờ thu tiền về, tiền của ngân hàng đƣa ra trong giai đoạn này sẽ có độ rủi ro thấp hơn. Rủi ro của một khoản cho vay còn có nguyên nhân xuất phát từ hình thái giá trị tiền tệ của nó. Với chức năng là phƣơng tiện thanh toán, tiền tệ có thể thỏa mãn mọi mục đích khác nhau cho mọi chủ thể trong nền kinh tế và trong xã hội.
Chính do sự linh hoạt của mục đích sử dụng tiền nên thực sự rất khó kiểm soát khi tiền đã đƣợc chuyển vào tay khách hàng và đây có thể là một trong những lý do dẫn đến thất thoát tiền, không trả nợ đƣợc cho ngân hàng. Chính vì cho vay có độ rủi ro cao nên các ngân hàng thƣờng áp dụng rất nhiều biện pháp đa dạng để tăng thêm độ an toàn cho ngân hàng khi cho vay, chẳng hạn quy định về mức vốn đối ứng của phƣơng án vay, quy định về bảo đảm cho 9 khoản vay, quy định quy trình giải ngân, giám sát khoản vay.Các quy định này không nhất thiết phải có trong các hình thức cấp tín dụng khác. * Đối tượng cho vay phong phú. Đây là điểm khác biệt với các hình thức cấp tín dụng còn lại.
Đối tƣợng cho vay trả lời cho câu hỏi: ngân hàng cho vay cái gì? Sự phong phú đối tƣợng cho vay xuất phát từ sự đa dạng về mục đích vay của khách hàng: có thể là vay để đầu tƣ xây dựng cơ bản, vay mua sắm máy móc thiết bị, vay kinh doanh, vay tiêu dùng, vay để hình thành nguồn vốn cho vay của các định chế tài chính khác. Những mục đích vay phong phú có thể dẫn đến những nhu cầu vay hết sức đa dạng về thời hạn, về quy mô. nên phạm vi đối tƣợng cho vay của ngân hàng rất rộng lớn. Chẳng hạn đối với một khoản vay kinh doanh, đối tƣợng cho vay có thể bao gồm nhu cầu phát sinh trong các giai đoạn của một chu kỳ hoạt động: giai đoạn mua vào là nhu cầu thanh toán tiền vật tƣ hàng hóa, thuế nhập khẩu và các chi phí vận chuyển đi kèm, giai đoạn sản xuất có các chi phí tiền công, tiền lƣơng, chi phí sản xuất bằng tiền, giai đoạn tiêu thụ là các chi phí bao bì đóng gói, chi phí bán hàng, chí phí tiêu thụ bằng tiền khác, giai đoạn thu tiền là giá trị các khoản nợ phải thu chƣa đến hạn thanh toán.
Trong khi đó một khoản vay với mục đích xây dụng cơ bản thì đối tƣợng cho vay có thể là các chi phí thanh toán vật liệu xây dựng, tiền công. phát sinh trong quá trình xây dựng công trình trung, dài hạn. Với mục đích vay tiêu dùng, đối tƣợng cho vay có thể là các chi phí thanh toán tiền mua tài sản giá trị lớn nhƣ nhà, đất, xe cộ, các vật dụng gia đình, thanh toán chi phí sinh hoạt nhƣ: tiền ăn ở, đi lại, học tập, chữa bệnh. * Kỹ thuật thực hiện cho vay đa dạng.
Có thể nói trong cho vay ngân hàng có rất nhiều cách thức để chuyển giao tiền cho khách hàng. Điều này đƣợc quy định trong các phƣơng thức cho vay của ngân hàng. Theo đó mỗi phƣơng thức cho vay là một tập hợp các kỹ thuật tác nghiệp cụ thể của ngân hàng khi thực hiện khoản vay, bao gồm kỹ thuật xác định mức cho vay, thời hạn vay, định kỳ hạn nợ, giải ngân thu nợ và xử lý nợ. Việc vận dụng phƣơng thức cho vay nào là tuỳ thuộc vào quá trình tìm hiểu của ngân hàng về 10 đặc điểm hoạt động, khả năng tài chính, về rủi ro đặc trƣng của ngƣời vay.
để từ đó chọn và áp dụng phƣơng thức cho vay thích hợp, đảm bảo thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng và hiệu quả của vốn tín dụng. Theo quy định hiện nay (quy chế cho vay ban hành kèm theo thong tƣ số 39/2016/TT-NHNN của ngân hàng Nhà nƣớc ban hành ngày 30/12/2016) có 9 phƣơng thức cho vay.