CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Các vấn đề cơ bản về tín dụng, tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm và đặc trưng của tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm về tín dụng, tín dụng ngân hàng Tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế, đã được nhiều nhà kinh tế học đề cập đến và có nhiều khái niệm về tín dụng được đưa ra.
Tuy nhiên khái quát lại chúng ta có thể hiểu tín dụng theo định nghĩa như sau: “Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao một lượng giá trị sang cho bên kia được sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận được phải cam kết hoàn trả theo thời hạn đã thoả thuận” [23] Từ khái niệm ta có thể kết luận tín dụng gồm : Một là: Người sở hữu một lượng tiền nhàn rỗi hoặc hàng hóa chưa dùng đến cho người khác có nhu cầu sử dụng trong khoảng thời gian nhất định do hai bên thỏa thuận. Hai là người sử dụng tiền hoặc hàng hóa cam kết sẽ phải hoàn trả lại toàn bộ số tiền hoặc hàng hóa đó cho người sở hữu với một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu và phần chênh lệch đó được gọi là tiền lãi hay lợi tức. Tín dụng ngân hàng là một bước phát triển cao hơn của tín dụng, nó chính là quan hệ vay mượn giữa các bên theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi trong một khoảng thời gian nhất định, giữa một bên là người cho vay (các Ngân hàng Thương mại) và một bên là người đi vay (các cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng và các NHTM khác và tổ chức chính trị xã hội). Tuy nhiên trong luận văn này chỉ đề cập đến tín dụng ngân hàng bao hàm ý nghĩa là ngân hàng cho vay (và không nghiên cứu tới phần huy động vốn tại các ngân hàng thương mại).
4 Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng là cá nhân, doanh nghiệp hay tổ chức kinh tế trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định. Việc chuyển nhượng này có thời hạn và mang tính chất tạm thời, người sử dụng sẽ mất một khoản chi phí nhất định. Theo Khoản 14 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số: 47/2010/QH12 ghi “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Qua đó có thể thấy rằng hoạt động tín dụng bao gồm 4 hoạt động chủ yếu là: cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá, bảo lãnh và cho thuê tài chính.
Chi tiết cụ thể của từng hoạt động tín dụng này sẽ được nêu trong phần phân loại tín dụng ngân hàng. Đặc trưng của tín dụng ngân hàng Tín dụng là sự kết hợp của 3 yếu tố: sự tin tưởng vào khả năng trả nợ của người đi vay; thời hạn của quan hệ tín dụng và sự hứa hẹn hoàn trả. - Ngân hàng cho khách hàng vay tiền dựa trên “lòng tin” hay “mức tín nhiệm”. Đó là yếu tố không thể thiếu trong quan hệ tín dụng, bởi nếu không có lòng tin, không có mức tín nhiệm không phát sinh các quan hệ tín dụng.
- Sau khi được chuyển nhượng vốn từ Ngân hàng sang người đi vay thì người đi vay phải xác định được thời gian trả nợ, thời gian trả nợ là có hạn, phần gốc cho vay ban đầu chỉ là vật chuyên trở giá trị sử dụng, nó sẽ được phát ra qua các thời gian nhất định rồi sẽ thu về (cả gốc và lãi) chứ không được bán đứt. - Kết thúc vòng quay của tín dụng, hoàn thành một chu kỳ sản xuất, vốn tín dụng được người đi vay hoàn trả lại cho người cho vay đầy đủ cả gốc và một phần lãi nhất định như đã thoả thuận. 5 Một mối quan hệ tín dụng hoàn hảo nếu có với đầy đủ các đặc trưng trên, nghĩa là người đi vay hoàn trả được đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn, vay trong một khoảng thời gian nhất định. Phân loại tín dụng ngân hàng Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu người ta phận loại tín dụng như sau: 1.
Phân loại theo thời hạn tín dụng Theo tiêu thức này tín dụng được phân thành 3 loại sau: a) Tín dụng ngắn hạn: Cho vay có thời hạn từ 12 tháng trở xuống và nhằm bổ sung sự thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động cho các cá nhân, các doanh nghiệp hay cho vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân. b) Tín dụng trung hạn: Cho vay có thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng và chủ yếu là cho vay các dự án đầu tư, đầu tư tài sản cố định, cho vay tiêu dùng, cho vay mua đất… c) Tín dụng dài hạn: Cho vay có thời hạn trên 60 tháng, chủ yếu là cho vay đầu tư xây dựng cơ bản, đâu tư xây dựng tài sản cố định mới, cải tiến và mở rộng sản xuất với quy mô lớn các công trình thuộc cơ sở hạ tầng. Phân loại theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng Đây là cách phân loại theo mức độ bảo đảm tiền vay, bao gồm a) Tín dụng có tài sản bảo đảm: Là loại hình tín dụng.có được bảo đảm bằng tài sản thế chấp, cầm cố. Các tài sản được mang ra thế chấp, cầm cố là tài sản của chính khách hàng hoặc của bên thứ ba sẵn sàng đưa tài sản của mình vào thế chấp, bảo lãnh cho ngân hàng và nếu có rủi ro xảy ra ngân hàng sẽ xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
b) Tín dụng không có tài sản bảo đảm: Là loại tín dụng không có tài sản cầm cố, thế chấp của người vay hoặc của người thứ ba. Việc cấp tín dụng được dựa trên lòng tin, uy tín của khách hàng. Phân loại theo nghiệp vụ tín dụng (hình thức cấp tín dụng) Theo nghiệp vụ tín dụng thì tín dụng gồm : cho vay, chiết khấu, cho 6 thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Cụ thể: a) Cho vay: Cho vay là hình thức cấp tín dụng, trong đo ho vay là Bên cho vay giao cho bên vay một khoản tiền hoặc vật cùng loại để làm sở hữu trong thời hạn mà các bên đã thỏa thuận.Cho vay có thể có lãi hoặc không có lãi.
Người đi vay sẽ phải trả lãi theo đúng thỏa thuận giữa hai bên nhưng phải phù hợp với quy định pháp luật. Cho vay là nghiệp vụ truyền thống và có từ rất lâu đời của tín dụng.Cho vay tại các NHTM luôn luôn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tín dụng và mang lại lợi nhuận tương đối cao cho Ngân hàng.[15] b) Chiết khấu Chiết khấu là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn thanh toán. Các công cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá được chiết khấu bao gồm: Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc và các loại công cụ chuyển nhượng khác được chiết khấu theo quy định của pháp luật. Hiện nay, các ngân hàng thường nhận chiết khấu hai loại chứng từ cơ bản: thương phiếu và chứng từ có giá khác như trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu Kho bạc Nhà nước, sổ tiết kiệm.
Cho thuê tài chính cũng là một hình thức cấp vốn với tỉ lệ tài trợ cao lên đến 90% giá trị tài sản thuê. Doanh nghiệp không cần phải bỏ ra nhiều vốn ban đầu mà vẫn có thể đảm bảo việc có tài sản để phục vụ cho hoạt động 7 sản xuất kinh doanh của mình trong trung và dài hạn. d) Bao thanh toán Bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá đã được bên bán hàng và bên mua hàng thoả thuận trong hợp đồng mua, bán hàng hoá.[15] e) Bảo lãnh ngân hàng Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay.
Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với nền kinh tế - Tín dụng ngân hàng là đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế diễn ra thường xuyên, liên tục.[23] Tín dụng ngân hàng trở thành một kênh cung cấp tin cậy cho các nhu cầu tín dụng trong nền kinh tế. Trong một nền kinh tế song song tồn tại hai nhóm đối tượng: Một nhóm đối tượng thừa vốn và muốn sử dụng số vốn tạm thời nhàn rỗi nhưng vẫn có thể sinh lời trong một thời gian nhất định. Một nhóm đối tượng thiếu vốn và muốn tìm kiếm nguồn vốn nhàn rỗi, nhưng ổn định để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh hiện tại. Hoạt động tín dụng xảy ra ở đâu đều có hai nhóm đối tượng được thoả mãn nhu cầu, nguồn vốn được sử dụng một cách tối ưu, từ người thừa vốn sang người thiếu vốn - Thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và kiểm soát sử dụng vốn tại các doanh nghiệp.[23] Việc thỏa mãn một phần hay toàn bộ nhu cầu vốn của doanh nghiệp đã 8 tạo nên điều kiện giúp cho doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới công nghệ, đầu tư xây dựng cơ bản.
Từ đó góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển.