CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm về NHTM NHTM là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân, bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm rồi sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên. Theo điều 20 khoản 2 và 7 Luật tổ chức tín dụng, ban hành ngày 10 tháng 10 năm 1997 quy định: “NHTM là một tổ chức tín dụng thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan.
Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”. Hoạt động của NHTM là hoạt động kinh doanh. Để hoạt động kinh doanh, các NHTM phải có vốn, phải tự chủ về tài chính và đều hướng đến mục đích cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận. NHTM tìm kiếm lợi nhuận bằng cách đi vay và cho vay lại trên cơ sở chấp hành luật pháp nhà nước.
Hoạt động của NHTM là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Hàng hóa của NHTM là một loại hàng hóa đặc biệt, đó là tiền vốn. Giá cả của hàng hóa này biểu hiện ra bên ngoài là mức lãi suất huy động hoặc lãi suất cho vay, nó chịu tác động bởi quan hệ cung – cầu vốn trên thị trường và trên cơ sở khoản lợi nhuận đạt đươc khi đưa vốn vay vào sản xuất kinh doanh. Vì vậy, lợi nhuận chủ yếu của hoạt động ngân hàng sẽ là khoản chênh lệch giữa chi phí trả lãi huy động với thu nhập từ lãi cho vay.
Để có hàng hóa kinh doanh, ngân hàng phải đưa ra một giá mua hợp lý, cũng như đa dạng các hình thức huy động. đồng thời ngân hàng cũng đa dạng hóa các hình thức cho vay nhằm phân tán, giảm thiểu rủi ro. 123doc 5 Tóm lại, NHTM là loại hình định chế tài chính trung gian hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Đây là loại hình định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường, góp phần tạo lập và cung ứng vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện và thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển.
Chức năng của NHTM 1. Chức năng trung gian tín dụng Đây là chức năng quan trọng và cơ bản nhất của NHTM, thực hiện chức năng này, NTHM sử dụng công cụ lãi suất huy động để tập trung nguồn vốn đầu tư tín dụng. Thông qua hoạt động trung gian tín dụng của ngân hàng, NHTM đóng vai trò là nhịp cầu nối giữa nguồn cung và cầu về vốn. Trong cơ chế thị trường, sự hiện diện của NHTM trong chức năng trung gian tín dụng là một hiện thực khách quan do yêu cầu của nền kinh tế.
NHTM sẽ đứng ra dùng các biện pháp kích thích như lãi suất, các thể thức huy động vốn để khai thác triệt để các nguồn vốn trong nền kinh tế để đáp ứng nhu cầu tín dụng, nâng cao tối đa khả năng sinh lợi của đồng vốn xã hội. Với chức năng trung gian tín dụng, NHTM đã góp phần kích thích quá trình luân chuyển vốn toàn xã hội, thúc đẩy quá trình tái sản xuất được diễn ra nhanh hơn do vốn được đáp ứng kịp thời. Chức năng trung gian thanh toán Đây là chức năng quan trọng thể hiện tính chất đặc biệt trong hoạt động của NHTM. NHTM đứng ra làm trung gian để thực hiện giao dịch thanh toán giữa các chủ thể kinh tế trong quan hệ thương mại.
Chức năng trung gian thanh toán gắn bó một cách chặt chẽ và hữu cơ với chức năng trung gian tín dụng. Thực hiện chức năng trung gian thanh toán NHTM đóng vai trò là người thủ quỹ cho khách hàng. NHTM sẽ thực hiện các nghiệp vụ như thu hộ, chi hộ, chuyển tiền theo sự ủy nhiệm của khách hàng. Ngoài nghiệp vụ thu hộ, chi hộ … NHTM khai thác triệt để nguồn tiền gửi thanh toán của khách hàng để cho vay, biến những nguồn tiền gửi thanh 123doc 6 toán của doanh nghiệp, tiền gửi tiết kiệm của cá nhân có chi phí thấp thành những món cho vay có kì hạn với lãi suất cao, tối đa hóa lợi nhuận.
Khi Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán thì phần lớn các giao dịch đều được chuyển khoản, vì vậy ngân hàng phải kiểm soát các loại chứng từ phù hợp với từng loại giao dịch và đảm bào nhanh chóng, kịp thời và chính xác với sự an toàn cao đảm bảo được quyền lợi và tính bảo mật cho khách hàng. Qua đó NHTM tham gia kiểm soát hoạt động kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế, góp phần tăng cường kỷ luật tài chính và lành mạnh hóa nền kinh tế. Nhờ thực hiện chức năng này, NHTM đã làm giảm bớt khối lượng tiền mặt lưu hành, giảm được chi phí xã hội về in tiền, vận chuyển, bảo quản tiền tệ, tiết kiệm nhiều chi phí về giao dịch thanh toán. Ngoài ra nhờ chức năng phương tiện thanh toán, hệ thống NHTM có khả năng tạo ra một khối lượng tiền rất lớn, lớn hơn nhiều lần so với lượng tiền gửi cơ bản ban đầu.
Phần tiền tăng thêm này do NHTM tạo ra gọi là bút tệ. Bút tệ là một loại tiền chỉ xuất hiện trên sổ sách của NHTM. NHTM có khả năng tạo ra tiền do sự kết hợp đồng bộ và nhuần nhuyễn giữa hai chức năng trung gian thanh toán trong toàn bộ hệ thống. Khả năng tạo tiền của NHTM được thực hiện bằng chuyển khoản hay bút tệ để thay thế cho tiền mặt.
Sự kết hợp giữa nghiệp vụ cho vay và thanh toán làm cho tiền dịch chuyển trong hệ thống ngân hàng. Chức năng cung cấp các dịch vụ ngân hàng Ngoài thực hiện chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán, hệ thống NHTM còn cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế. Do mạng lưới của NHTM rộng khắp (cả trong nước và các đại lý ở nước ngoài), có quan hệ với tất cả các chủ thể tham gia trong nền kinh tế, có phương tiện, công nghệ thực hiện các nghiệp vụ và nắm bắt nhiều thông tin về tình hình tiền tệ, giá cả, tỷ giá … trong nước và trên thế giới. Các dịch vụ ngân hàng thường gắn liền với những hoạt động mà chỉ có các NHTM mới được thực hiện, ngoài ra dịch vụ ngân hàng phát triển sẽ hỗ trợ cho 123doc 7 NHTM thực hiện chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán được hoàn hảo hơn.
Các Nghiệp vụ của NHTM Ngày nay, nền kinh tế hội nhập ngày càng phát triển, nhu cầu về các sản phẩm dịch vụ ngân hàng của nền kinh tế ngày càng cao, đòi hỏi hệ thống NHTM phải thường xuyên đổi mới, đưa ra nhiều sản phẩm tiện ích phục vụ nhu cầu xã hội. Tuy chưa theo kịp với các NHTM của các nước phát triển nhưng các NHTM Việt Nam đã đa dạng hóa các nghiệp vụ trong khuôn khổ pháp luật quy định. Các nghiệp vụ của NHTM bao gồm nghiệp vụ trong bản tổng kết tài sản và nghiệp vụ ngoài bảng tổng kết tài sản. Nghiệp vụ trong bản tổng kết tài sản: về cơ bản các NHTM gồm 3 nghiệp vụ chính: nghiệp vụ tạo lập nguồn vốn, nghiệp vụ sử dụng vốn và nghiệp vụ trung gian.
Nghiệp vụ tạo lập nguồn vốn (nghiệp vụ tài sản nợ) Vốn điều lệ và các quỹ Vốn điều lệ là nguồn vốn ban đầu khi ngân hàng mới đi vào hoạt động và được ghi vào bản điều lệ của ngân hàng. Vốn điều lệ phải đạt mức tối thiểu theo quy định của pháp luật và thường được thay đổi tăng lên nhờ được cấp bổ sung, hoặc phát hành cổ phiếu bổ sung, hoặc được kết chuyển từ quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ. Vốn điều lệ quy định cho một ngân hàng sẽ tùy thuộc vào quy mô và hoạt động của nó. Tùy theo loại hình ngân hàng mà vốn điều lệ được hình thành có thể khác nhau.
Vốn điều lệ của ngân hàng có nguồn gốc hình thành do ngân sách nhà nước cấp phát ban đầu nếu là NHTM quốc doanh, còn nếu là NHTM thì sẽ do các cổ đông góp. Vốn điều lệ được sử dụng trước hết để xây dựng, mua sắm tài sản cố định, các phương tiện làm việc và quản lý, ngoài ra các NHTM còn được phép dùng vốn điều lệ để hùn vốn, liên doanh, cấp vốn cho các công ty trực thuộc và thực hiện các hoạt động kinh doanh khác. Các quỹ của ngân hàng được hình thành khi ngân hàng đã đi vào hoạt động, bao gồm các quỹ trích từ lãi ròng hàng năm của NHTM như: quỹ dự trữ bổ sung 123doc 8 vốn điều lệ, các quỹ dự phòng, quỹ đầu tư phát triển, quỹ khác. Ngoài ra, còn có các quỹ được hình thành bằng cách trích và tính vào chi phí hoạt động của NHTM như: quỹ khấu hao cơ bản, sửa chữa tài sản, quỹ dự phòng để xử lý rủi ro.
Vốn huy động Đây là nguồn vốn hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng, chiếm tỉ trọng cao nhất trong nguồn vốn. Dựa vào yếu tố thời gian và tính chất của những khoản tiền gửi, tiền gửi của khách hàng có 2 loại: Tiền gửi kì hạn và tiền gửi không kì hạn. - Tiền gửi không kì hạn: là loại tiền gửi có thể rút theo yêu cầu của người gửi mà không tôn trọng một kì hạn ký thác nào. Đây là khoản tiền gửi thường xuyên biến động.
Ngân hàng không thể định ra kế hoạch sử dụng trước được mà chỉ dựa vào kinh nghiệm quản lý, ngân hàng có thể tận dụng ở một mức độ cho phép. - Tiền gửi có kì hạn: tiền gửi có kì hạn là loại tiền gửi mà người gửi tiền được rút ra khi đến thời hạn quy định. Đây là bộ phận tiền huy động mang tính chất ổn định và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tiền gửi huy động từ khách hàng. Ngân hàng sử dụng chủ yếu để cho vay có kì hạn.
Chính điểm thuận lợi này mà ngân hàng phải trả lãi cao vì mục đích của người gửi tiền là lợi nhuận, là lãi suất.