CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐÊ c o BẢN VÈ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐÓI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 1. CHO VAY ĐÓI VỚI DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 1. Khái niệm và đặc trưng của doanh nghiệp xây lắp 1.1 Khái niệm doanh nghiệp xây lắp Đe hiểu được một cách đầy đủ về các doanh nghiệp xây lắp (đơn vị xây lắp), trước tiên chúng ta cần đưa ra các định nghĩa về doanh nghiệp và về lĩnh vực xây lắp. Xét trên quan điểm luật pháp, doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự hoạt động kinh tế theo chế độ hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế trong phạm vi vốn đầu tư do doanh nghiệp quản lý và chịu sự quản lý của nhà nước bằng các loại luật và chính sách thực thi.
Hoạt động thi công xây lắp được hiểu một cách cơ bản là những công việc thuộc quá trình xây dựng và lắp đặt thiết bị các công trình, hạng mục công trình. Công trình xây dựng là sản phẩm của công nghệ lắp đặt gắn liền với đất (bao gồm cả khoảng không, mặt nước, mặt đất, mặt biển, thềm lục địa) được tạo thành bởi vật liệu xây dựng, thiết bị và lao động. Vậy doanh nghiệp xây lắp là các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập theo quy định của pháp luật, có đăng ký ngành nghề kinh doanh trong lĩnh vực thi công, xây lắp. Các Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp có trách nhiệm: - Phải đảm bảo chất lượng, an toàn, môi trường xây dựng tốt, cho công trình đang thi công, những công trình khác xung quanh và khu vực lân cận.
4 - Chỉ được phép nhận thầu thi công những công trình thực hiện đúng thủ tục đầu tư và xây dựng, phù hợp với năng lực của mình; thi công đúng thiết kế được duyệt, áp dụng đúng các tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng đã được quy định và chịu sự giám sát, kiểm tra thường xuyên về chất lượng công trình của chủ đầu tư, tố chức thiết kế và cơ quan giám định Nhà nước theo phân cấp quản lý chất lượng công trình xây dựng; - Chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư và trước pháp luật về thi công xây lắp công trình, kể cả những phần việc do nhà thầu phụ thực hiện theo quy định của hợp đồng giao nhận thầu xây lắp. - Vật liệu thành phẩm hoặc bán thành phẩm, cấu kiện xây dựng sử dụng vào công trình phải có chứng nhận về chất lượng gửi cho chủ đầu tư để kiểm soát trước khi sử dụng theo quy định; tổ chức hệ thống bảo đảm chất lượng công trình để quản lý sản phẩm xây dựng, quản lý công trình trong quá trình thi công.2 Đặc trưng của doanh nghiệp xây lắp So với các ngành sản xuất khác, ngành xây dựng cơ bản có những đặc điểm riêng về kinh tế, kỹ thuật được thể hiện rõ nét ở sản phẩm xây lắp và quá trình tạo ra sản phẩm xây lắp. Hiểu được những đặc điểm này của doanh nghiệp xây lắp sẽ giúp Ngân hàng đưa ra được quyết định chính xác, nắm rõ được những hạn chế và đưa ra phương pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng tín dụng, hiệu quả kinh doanh, a. Đặc điểm về sản phẩm xây lắp : - Sản phẩm xây lắp có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thòi gian sử dụng lâu dài: Với đặc điểm sản phẩm có quy mô lớn, thời gian sử dụng lâu dài đòi hỏi các nhà xây dựng phải dự đoán trước xu hướng tiến bộ xã hội để tránh bị lạc hậu, vốn đầu tư bỏ vào xây dưng dễ bị ứ đọng , gây lãng phí và ngược lại nếu thiếu vốn sẽ dẫn đến công tác thi công gián đoạn, kéo dài thời gian xây dựng.
5 Do đó, từ đặc điểm này, yêu cầu công tác tài chính phải có kế hoạch, tiến độ thi công, dự toán cụ thể cho từng giai đoạn thi công, từng hạng mục công trình để tránh lãng phí vật tư, rút ngắn thời gian thi công, tiết kiệm chi phí. - Sản phẩm xây lắp có riêng biệt, noi sản xuất gắn liền với noi tiêu thụ sản phẩm: Sản phẩm xây lắp mang tính tổng họp phát huy tác dụng về mặt kinh tế, chính trị, kế toán, nghệ thuật. Nó rất đa dạng nhưng lại mang tính độc lập, mỗi một công trình được xây dựng theo một thiết kế, kỹ thuật riêng, có giá trị dự toán riêng và tại một địa điểm nhất định, nơi sản xuất ra sản phẩm cũng đồng thời là nơi sau này khi sản phẩm hoàn thành được đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng. Mỗi sản phẩm đều có thiết kế riêng tùy theo yêu cầu thiết kế, các sản phẩm có thể giống nhau về hình thức, kết cấu nhưng lại có sự khác biệt riêng khi xây dựng ở những địa điểm khác nhau, nên mặc dù có thể sản xuất đồng loạt theo mẫu thiết kế thống nhất nhưng chi phí xây dựng không đồng nhất.
Phong cách kiến trúc và kiểu dáng một sản phẩm cần phải phù hợp với văn hoá dân tộc và do đó chất lượng của các công trình xây dựng cũng phải được đặc biệt chú ý. Các tư liệu sản xuất (máy móc, thiết bị, vật liệu xây dựng, nhân công.) phải được di chuyển đến địa điểm xây dựng. Đặc điểm này làm khó khăn công tác tổ chức sản xuất, việc bố trí các công trình tạm phục vụ thi công, các phương tiện, máy móc thiết bị nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp và tốn kém. Do đó để giảm thiểu lãng phí, tránh thất thoát trên đòi hỏi trước khi khởi công xây dựng công trình phải làm thật tốt công tác chuẩn bị đầu tư và chuẩn bị xây dựng; hiệu quả kinh doanh sẽ phụ thuộc rất lớn vào trình độ tổ chức quản lý của đơn vị xây lắp.
- Sản phẩm xây lắp chịu ảnh hưởng nhiều bởi điều kiện tự nhiên, khí hậu. Quá trình từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành công trình bàn giao và đưa vào sử dụng thường kéo dài. Chất lượng và giá cả (chi phí xây dựng) sản phẩm xây lắp phụ thuộc trực tiếp của các điều kiện tự nhiên. Quá trình thi 6 công được chia thành nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn thi công lại chia thành nhiều công việc khác nhau, các công việc chủ yếu diễn ra ngoài trời chịu tác dộng rất lớn của các nhân tố môi trường xấu như mưa, nắng, lũ, lụt.Rủi ro xảy ra tác động đến chất lượng công trình, giá thành và tiến độ công trình.
Do đó các doanh nghiệp xây lắp phải có tiến độ thi công cụ thể, có phương án sử dụng cũng như bảo quản nguyên vật liệu để tránh các tác động xấu của các điều kiện tự nhiên. - Sản phấm xây dựng là sản phẩm đơn chiếc và được tiêu thụ theo cách riêng. Các sản phâm được coi như tiêu thụ trước khi được xây dựng theo giá trị dự toán hay giá thoả thuận với chủ đầu tư (giá đấu thầu) do đó tính chất hàng hoá của sản phẩm xây lắp không được thể hiện rõ bởi vì sản phẩm xây lắp là hàng hoá đặc biệt. Đặc điếm tình hình tài chính của doanh nghiệp xây lắp - Nhu cầu vốn lưu động thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh: Do tính chất hoạt động của doanh nghiệp xây lắp nên cơ cấu vốn có đặc thù riêng khác với ngành công nghiệp và các ngành khác, cụ thể là nhu cầu vốn lưu động (vốn kinh doanh doanh ngắn hạn) cho hoạt động SXKD chiếm tỷ trọng lem nhất.
Các Ngân hàng thường cho vay các doanh nghiệp xây lắp chủ yếu để tài trợ vốn lưu động phục vụ thi công các công trình. Đối với nhu cầu đầu tư mới, thay thế và cải tiến máy móc thiết bị, nâng cao năng lực sản xuất, Ngân hàng chỉ tham gia tài trợ một phần, phần còn lại các doanh nghiệp xây lắp phải bỏ vốn tự có của mình. - Tốc độ chu chuyển vốn trong các doanh nghiệp xây lắp thường không cao: Do đặc điếm xây dựng một đơn vị sản phẩm đòi hỏi phải bỏ nhiều chi phí, thời gian thi công kéo dài dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn sản xuất ở các hạng mục công trình thi công dở dang. Khi công trình hoàn thành, công tác 7 nghiệm thu, quyết toán và thanh toán còn phải phụ thuộc vào chủ đầu tư.
Các doanh nghiệp xây lắp thường xuyên bị chiếm dụng vốn trong thời gian dài nên tốc độ quay vòng vốn lưu động thường rất thấp, nhu cầu vốn lưu động cần thiết cho thi công lớn. Trong khi đó vốn chủ hữu chiếm tỷ lệ nhỏ trên tổng nguồn vốn nên để đủ vốn hoạt động, các doanh nghiệp xây lắp phải huy động vốn bên ngoài mà chủ yếu là vốn vay Ngân hàng. - Khả năng tự chủ về tài chính thấp: Thực tế hiện nay, vốn tự có của doanh nghiệp xây lắp sử dụng để thi công công trình thường chỉ chiếm khoảng 5-20% trong tổng nhu cầu vốn, còn lại là vốn vay Ngân hàng và vốn chiếm dụng khác. Do đó gánh nặng về chi phí lãi vay lớn gây áp lực đến hiệu quả kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Lợi nhuận đạt được không cao nên khả năng bố sung vốn chủ sở hữu và đầu tư nâng cao năng lực sản xuất thi công thường hạn chế. Trong khi đó, do sản lượng thi công tăng lên cùng với yêu cầu cao về chất lượng công trình đòi hỏi phải có những thiết bị thi công hiện đại nên nhu cầu vốn (cả vốn lưu động và vốn đầu tư trung dài hạn) ngày càng tăng. Vì vậy, các doanh nghiệp xây lắp phải vay Ngân hàng ngày càng nhiều đế tài trợ cho nhu cầu vốn của mình. - Ngoài ra, trong thực tế hiện nay, để phát triển hoạt động, tăng năng lực tài chính, hiệu quả kinh doanh nhiều doanh nghiệp xây lắp không chỉ hoạt động dưới hình thức nhà thầu thi công mà còn tiến hành đầu tư các dự án đầu tư bất động sản, thủy điện, kinh doanh nhà hàng khách sạn.
Do đó, nhu cầu vốn vay của các doanh nghiệp này ngày càng tăng cả về vốn ngắn hạn và trung dài hạn; các Ngân hàng khi thẩm định, tài trợ vốn cho doanh nghiệp xây lắp cũng phải chú trọng đến tính chất hoạt động đa ngành, đa nghề của doanh nghiệp xây lắp để quyết định mức cho vay, điều kiện cho vay phù hợp.