CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP NHỎ VA VỪA TẠI NHTM 1. Tổng quan về tín dụng KHDN NNV tại NHTM 1. Khái niệm về tín dụng Là hoạt động đặc trưng và cơ bản nhất trong ngân hàng nên tín dụng được các nhà nghiên cứu và các nhà lập pháp rất quan tâm. Có một số quan điểm về tín dụng như sau: Theo hệ thống pháp luật của một số nước trên thế giới như Anh - Mỹ thì: “tín dụng một khoản nợ (hiện tại và tương lai) được cung cấp bởi một thực thể (tổ chức hoặc cá nhân) cho một thực thể khác thông qua các giấy nợ, trong đó quy định rõ ràng về mức lãi suất, thời hạn trả nợ.
Quan niệm này chỉ tập trung vào việc trả nợ đúng hạn của khách hàng” (Rose, 2003). Như vậy, đây là một quan điểm rất rộng, và cho rằng tín dụng là một khoản mục được hình thành cả từ bên tài sản và bên nguồn vốn, miễn là cứ có cam kết trả nợ là được. Hệ thống pháp luật Đức – Pháp lại cho rằng: “tín dụng là một hoạt động trong đó một chủ thể cấp cho chủ thể khác một khoản tiền để sử dụng với mục đích nhất định và thời hạn xác định” (Rose, 2003). Quan điểm này được các nước Hồi giáo sử dụng vì không hề đề cập đến lãi suất khoản vay, mà tập trung vào tính chất của khoản vay.
Xuất phát từ việc tổng hợp hai quan điểm của hai hệ thống pháp luật trên, Quốc hội (2010, trang 2) đã cho rằng: “tín dụng là việc ngân hàng cấp hoặc cam kết cấp cho khách hàng một khoản tiền với cam kết hoàn trả cả gốc và lãi”. Trong số các dịch vụ tín dụng thì cho vay chiếm tỷ trọng cao nhất, nên “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Ngân hàng có thể cho vay bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản, tiền có thể chuyển tới tài khoản của khách hàng 7 hoặc tài khoản của người bán hàng cho khách hàng. Trong luận văn, tác giả sử dụng quan điểm của Quốc hội (2010) để nghiên cứu về tín dụng.
Ngân hàng cũng thiết kế các loại tín dụng cho phù hợp với khách hàng, ví dụ khách hàng vay mượn nhiều lần trong năm, vay món nhỏ, vay thời vụ, vay xuất nhập khẩu. Ngoài ra, một phần nhỏ trong tín dụng như cho vay qua thẻ, qua mạng cũng được phát triển mạnh cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin. Đặc điểm và phân loại tín dụng Tín dụng là một hoạt động chủ yếu của các ngân hàng thương mại tại các nước đang phát triển, và đóng vai trò quan trọng trong tại các nước đang phát triển. Theo Phan Thị Thu Hà (2013), tín dụng mang những đặc điểm chung nhất như sau.
Thứ nhất, tín dụng là hoạt động mang tính chất nền tảng của các NHTM trên thế giới. Ngay từ khi ra đời, việc huy động vốn với chi phí thấp và cấp tín dụng với chi phí cao đã giúp các NHTM có được một khoản thu nhập lớn, từ đó dùng để đầu tư các hoạt động khác (Phan Thị Thu Hà, 2013). Mặc dù về sau này, các dịch vụ ngân hàng bán lẻ phát triển, thúc đẩy các hoạt động kinh doanh khác, nhưng tại các nước đang phát triển hoặc các nước có nền kinh tế chuyển đổi thì hoạt động này mang lại thu nhập lớn: khoảng 70% doanh thu của ngân hàng là từ tín dụng. Thậm chí, có những ngân hàng, tỷ lệ doanh thu từ lãi lên đến hơn 90% - minh chứng cho việc tín dụng trở thành hoạt động mang tính chủ chốt của các NHTM trong giai đoạn hiện nay.
Tuy nhiên, Rose (2015) đưa ra quan điểm rằng nếu không chuyển hướng sang các hoạt động khác thì rất dễ dẫn đến rủi ro danh mục đầu tư: các hoạt động đầu tư quá nhiều vào một nhóm khách hàng hay một nhóm ngành nghề có thể mang lại rủi ro mất vốn khi khách hàng không trả được nợ do những lý do khác nhau. Thứ hai, các hình thức và sản phẩm tín dụng rất đa dạng và rộng lớn, nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của khách hàng, và cũng để đảm bảo được khả năng thu hồi gốc và lãi của ngân hàng. Đối với nhóm khách hàng cá nhân, các sản phẩm này vừa đáp ứng được khả năng tín dụng tiêu dùng, vừa tín dụng để sản xuất kinh doanh; TSĐB cũng có thể biến động. Do đó, để đáp ứng khả năng của khách hàng và cũng để đảm bảo an toàn cho chính mình, các hình thức tín dụng và sản phẩm tín 8 dụng của ngân hàng cũng cần đa dạng để đưa ra được tính chất cạnh tranh trên thị trường.
Theo thống kê của Casu (2013), hiện tại, dịch vụ tín dụng của các NHTM Mỹ có khoảng 128 sản phẩm khác nhau. Con số này tại Anh là 109 và tại các nước Châu Âu khác vào khoảng 148 – chủ yếu là các dịch vụ tín dụng thông qua thẻ, do đặc điểm dân cứ của các nước này ít khi tiêu dùng tiền mặt. Thứ ba, dịch vụ tín dụng hàm chứa nhiều rủi ro cho ngân hàng. Vì chiếm tỉ trọng tương đối lớn trong hoạt động sử dụng vốn tại ngân hàng (khoảng 70% tại các nước đang phát triển - theo Phan Thị Thu Hà, 2013, trang 287), trong đó mỗi khoản vay đều có những rủi ro nhất định khi khách hàng có thể không trả nợ đúng và đủ theo thời hạn trên hợp đồng – xuất phát từ việc sử dụng vốn sai mục đích, thay đổi môi trường kinh doanh hay từ những vấn đề bản thân ngân hàng hay người vay vốn – nên khi nhân lên, khả năng xảy ra rủi ro từ các hoạt động này rất lớn.
Do đó, tất cả các ngân hàng trung ương trên thế giới đều kiểm soát rất chặt chẽ các hoạt động cấp tín dụng thông qua yêu cầu dự phòng rủi ro tín dụng, yêu cầu về đảm bảo thanh khoản như tỷ lệ vốn ngắn hạn dùng cấp tín dụng trung và dài hạn. Thứ tư, thời hạn và lãi suất của các khoản tín dụng rất khác biệt đối với các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế, trải dài từ ngắn hạn đến dài hạn – phù hợp với nhu cầu vay vốn để sản xuất hay kinh doanh – hay đầu tư phát triển của các doanh nghiệp hay chính phủ; lãi suất từ 0% đến mức đủ bù đắp toàn bộ rủi ro, chi phí hoạt động và đảm bảo chi phí huy động vốn đầu vào cho ngân hàng. Đa phần các ngân hàng đều có thể tự quyết định thời gian và lãi suất của khoản vay dựa trên khả năng định giá của chính mình, song một số ngân hàng vẫn tài trợ những khoản mục dựa trên định hướng của chính phủ, vừa phù hợp với mục tiêu đa dạng hoạt động kinh doanh, vừa thực hiện chính sách phát triển của nhà nước. Cuối cùng, đa phần các dịch vụ tín dụng đều yêu cầu tài sản đảm bảo để đảm bảo giảm thiểu rủi ro tín dụng, đồng thời có thể bù đắp rủi ro có thể xảy ra cho ngân hàng.
Tài sản đảm bảo thường là bất động sản của người đi vay, hoặc sẽ hình thành từ vốn vay, cũng có thể là các khoản đảm bảo chi trả từ phía chính phủ, ngân hàng khác hoặc các tổ chức tài chính trung gian trên thị trường. Đối với một số dự án đặc 9 thù hoặc một số cá nhân vay vốn có khả năng trả nợ cao hoặc là đối tượng dễ bị tổn thương, được quy định trong chính sách tín dụng của nhà nước, ngân hàng có thể xem xét tín dụng tín chấp. TSĐB của khách hàng được chia thành 3 loại chính, bao gồm tài sản đã hình thành và thuộc quyền sở hữu của khách hàng (thường được đảm bảo dưới dạng cầm cố hoặc thế chấp), tài sản sẽ hình thành từ nguồn vốn vay, tài sản của bên thứ ba (dưới dạng bảo lãnh vay vốn). Các loại tài sản này sẽ nhằm mục đích là nguồn thu nợ thứ 2 cho ngân hàng nếu khách hàng không trả được nợ.
Lý luận chung về KHDN nhỏ và vừa 1. Khái niệm KHDN nhỏ và vừa Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các loại hình doanh nghiệp phong phú và đa dạng, tùy theo từng cách tiếp cận khác nhau mà doanh nghiệp được chia thành các loại khác nhau. Căn cứ vào mô hình hoạt động thì có 5 loại hình doanh nghiệp, gồm: Công ty TNHH (Công ty TNHH một thành viên và Công ty TNHH hai thành viên trở lên), Công ty cổ phần, Doanh nghiệp nhà nước, Doanh nghiệp tư nhân và Công ty hợp danh. Theo quy mô thì doanh nghiệp được chia thành 2 loại: Doanh nghiệp lớn và Doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Tại Việt Nam, DN nhỏ và vừa có vị thế và vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế. Để hỗ trợ đối tượng doanh nghiệp này, Quốc hội ban hành Luật hỗ trợ DNVVN số 04/2017/QH14 ngày 12/06/2017 và Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018 quy định cụ thể các tiêu chí xác định DN nhỏ và vừa như sau: DNNVV bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: a) Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; b) Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng. Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ.1: Các tiêu chí xác định DNNVV Doanh nghiệp siêu Quy mô Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiêp vừa nhỏ Tổng Tổng Tổng Tổng Tổng Tổng Số LĐ NV DT Số LĐ NV DT Số LĐ NV DT Khu vực (người) (tỷ (tỷ (người) (tỷ (tỷ (người) (tỷ (tỷ đồng) đồng) đồng) đồng) đồng) đồng) 1. Nông nghiệp, lâm hoặc ≤100 hoặc ≤200 hoặc ≤10 và ≤3 ≤20 ≤100 nghiệp, ≤3 và ≤50 và ≤200 thủy sản 2.
Công hoặc ≤100 hoặc ≤200 hoặc nghiệp, xây ≤10 và ≤3 ≤20 ≤100 ≤3 và ≤50 và ≤200 dựng 3. Thương hoặc hoặc ≤100 hoặc mại, dịch ≤10 và ≤3 ≤50 và ≤50 ≤100 ≤10 ≤100 và ≤300 vụ (Nguồn: Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/03/2018) 1.