CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN DNNVV TỪ HỖ TRỢ VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 KHÁI QUÁT VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 Thế nào là DNNVV DNNVV là một loại hình doanh nghiệp của nền kinh tế. Việc khái niệm rõ thế nào là DNNVV rất linh hoạt và tuỳ thuộc vào từng quốc gia, từng khu vực kinh tế mà không có một chuẩn thống nhất chung. Thông thường sẽ có những mức giới hạn cho một doanh nghiệp để được coi là vừa và nhỏ, khi vượt rào cản đó, doanh nghiệp vượt cấp để trở thành doanh nghiệp lớn, thành tập đoàn. DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động.
DNNVV có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động.1 DNVVN theo tiêu chí phân loại tại một số nước trên thế giới Bảng 1. Tiêu chí xác định DNNVV ở một số quốc gia Tên Tên và tiêu chuẩn phân định quốc gia Doanh nghiệp nhỏ và vừa: Ngành chế tạo: Số lượng nhân viên dưới 300 người hoặc vốn đầu tư khoảng Nhật Bản dưới 100 triệu Yên Ngành bán buôn: Nhân viên dưới 50 người và vốn đầu tư 10 triệu Yên. Doanh nghiệp vừa: Số nhân viên từ 50 – 249 người Braxin Doanh nghiệp nhỏ: Số nhân viên 5 – 49 người Doanh nghiệp nhỏ: Nhân viên từ 5 – 19 người, vốn khoảng 70 triệu Rubi (trừ Indonesia đất đai và bất động sản) Doanh nghiệp vừa: Số nhân viên khoảng 20 – 29 người -5- Malaysia Doanh nghiệp nhỏ và vừa: Nhân viên khoảng dưới 250 người, vốn tài sản cố định hoặc tài sản khoảng 1 triệu Ringis Doanh nghiệp nhỏ và vừa: 1.
Ngành chế tạo, vận tải có số lượng nhân viên khoảng dưới 300 người hoặc tài sản dưới 500 triệu Won Hàn 2. Ngành kiến trúc có số nhân viên dưới 50 người và tài sản dưới 500 triệu Quốc Won 3. Ngành thương mại, ngành dịch vụ có số nhân viên dưới 50 người và tài sản dưới 50 triệu Won 4. Ngành bán buôn có số nhân viên dưới 50 người hoặc tài sản dưới 200 triệu Won.
Công nghiệp quy mô nhỏ và vừa: Tổng tài sản trên 250 nghìn và dưới 1 triệu Pêsô. Philippin Công nghiệp quy mô nhỏ: Chủ doanh nghiệp chỉ đạo mọi hoạt động ngoài sản xuất và có số lượng nhân viên từ 5 – 99 người, tổng tài sản là 100 nghìn đến 1 triệu Pêsô. Doanh nghiệp nhỏ: Tài sản cố định dưới 5 triệu đô la Sing Singapore Doanh nghiệp vừa: Vốn cố định từ 5 – 10 triệu đô la Sing Doanh nghiệp nhỏ và vừa: Đài 1. Ngành chế tạo: Vốn dưới 40 triệu Đài tệ, tổng tài sản dưới 120 triệu Đài tệ.
Ngành khoáng sản: Tổng vốn dưới 40 triệu Đài tệ 3. Ngành thương mại, vận tải : Mức tiêu thụ hàng năm dưới 40 triệu Đài tệ. Công nghiệp quy mô nhỏ: Vốn đăng ký dưới 2 triệu Bạt và dưới 50 nhân viên. Thái Lan Ngành chế tạo: Có số nhân viên dưới 500 người, ngành chế tạo ô tô dươi 1.000 người, ngành chế tạo máy hàng không dưới 500 người.
Mỹ Ngành dịch vụ bán lẻ: Mức tiêu thụ hàng năm dưới 80. Ngành bán buôn: Mức tiêu thụ hàng năm dưới 220. Ngành nông nghiệp: Mức tiêu thụ hàng năm dưới 1 triệu đô la.2 DNNVV tại Việt Nam Đối với Việt Nam thì để phân biệt đâu là doanh nghiệp nhỏ, đâu là doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp lớn thì ngày 23/11/2001 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 90/2001/NĐ-CP, theo đó, DNNVV được định nghĩa là các cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Ngày 30/06/2009 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ- -6- CP, theo đó DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: Bảng 1.
Các tiêu chí phân loại DNVVN Quy mô Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Số lao Tổng Số lao Tổng Số lao động Khu vực động nguồn vốn động nguồn vốn từ trên 10 từ trên 20 từ trên 200 I. Nông, lâm nghiệp 10 người 20 tỷ đồng người đến tỷ đồng đến người đến và thủy sản trở xuống trở xuống 200 người 100 tỷ đồng 300 người từ trên 10 từ trên 20 từ trên 200 II. Công nghiệp và 10 người 20 tỷ đồng người đến tỷ đồng đến người đến xây dựng trở xuống trở xuống 200 người 100 tỷ đồng 300 người từ trên 10 từ trên 10 từ trên 50 III. Thương mại và 10 người 10 tỷ đồng người đến tỷ đồng đến người đến dịch vụ trở xuống trở xuống 50 người 50 tỷ đồng 100 người (Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính Phủ) Tuy nhiên, căn cứ tình hình kinh tế - xã hội cụ thể ở từng địa phương, căn cứ vào các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau mà địa phương có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả 2 tiêu chí vốn và lao động hoặc một trong hai tiêu chí trên cho phù hợp vì hai tiêu chí trên thường không luôn luôn tương thích với nhau, nhất là trong điều kiện hiện nay có những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao, có số vốn hoặc doanh thu khá lớn nhưng số lao động lại rất ít vì đó là những lao động có chuyên môn kỹ thuật cao.2 Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế thị trường DNNVV có vai trò quan trọng trong nền kinh tế các nước đang phát triển.
Theo thống kê tính đến thời điểm 01/01/2012 trên phạm vi cả nước tồn tại về mặt pháp lý là 541.103 doanh nghiệp, nếu loại trừ 92.710 doanh nghiệp -7- không thể xác minh được, thì tổng số doanh nghiệp của toàn bộ nền kinh tế là 448.393 doan1h nghiệp, trong số đó có đến 97% là DNNVV với các hình thức: DN tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần…; từ đó, DNNVV đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế nước ta. Nhìn chung, vai trò của DNNVV trong nền kinh tế thị trường thể hiện ở các mặt sau: - Tạo việc làm cho người lao động, góp phần ổn định xã hội Đây là thế mạnh rõ rệt của DNNVV và là nguyên nhân chủ yếu khiến ta phải đặc biệt quan tâm chú trọng phát triển DNNVV ở nước ta hiện nay. Giải quyết công ăn việc làm luôn là vấn đề bức xúc của hầu hết các nước trên thế giới. Phát triển DNNVV là một giải pháp hữu hiệu giải quyết vấn đề thất nghiệp.
Lý do đơn giản là DNNVV thường được dễ dàng tạo lập với một lượng vốn không lớn và thường xuyên đáp ứng được những thay đổi của thị trường. Vì vậy, mặc dù số lượng lao động trong một DNNVV không nhiều nhưng theo quy luật số đông, một số lượng lớn DNNVV trong nền kinh tế sẽ tạo ra phần lớn công ăn việc làm cho xã hội. Khu vực DNNVV thuộc các thành phần kinh tế hiện đã sử dụng hơn 50% lực lượng lao động trong hệ thống doanh nghiệp nhưng triển vọng thu hút thêm lao động rất lớn vì suất đầu tư cho mỗi chỗ làm việc ở đây thấp hơn rất nhiều so với doanh nghiệp lớn, chủ yếu là do chi phí thấp và thu hút được các nguồn vốn rải rác trong dân, là nơi có nhiều thuận lợi nhất để tiếp nhận số lao động ở nông thôn tăng thêm mỗi năm, số lao động từ các DNNVV dôi ra qua việc cổ phần hóa, bán, khoán, cho thuê,… - DNNVV cung cấp một khối lượng lớn, đa dạng, phong phú về sản phẩm, đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế 1 http://www.aspx?tabid=382&idmid=2&ItemID=12481 truy cập ngày 29/6/2012 -8- Với số lượng đông đảo trong nền kinh tế, DNNVV tạo ra một khối lượng sản phẩm đáng kể cho xã hội. Mặt khác, do đặc tính linh hoạt, mềm dẻo, DNNVV có khả năng đáp ứng những nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú và độc đáo của người tiêu dùng, đặc biệt là những sản phẩm có tính chất linh tinh, lặt vặt không thích hợp với các doanh nghiệp lớn.
Ở Việt Nam, mỗi năm DNNVV đóng góp gần 20% tổng ngân sách quốc gia. Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, khu vực DNNVV đóng góp ước tính 30% giá trị tổng sản lượng công nghiệp hàng năm. Các DNNVV đã góp phần quan trọng vào việc thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực hơn. - DNNVV góp phần quan trọng vào việc huy động các nguồn lực của đất nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh Dựa trên những ưu thế của DNNVV như thành lập với số vốn ít, thu hồi vốn nhanh, sử dụng các tiềm năng về nguồn vốn lao động và nguyên vật liệu sẵn có ở địa phương, sử dụng các sản phẩm phụ hoặc phế phẩm, phế liệu của các doanh nghiệp lớn, DNNVV thu hút được một khối lượng lớn về vốn nhàn rỗi của các tầng lớp dân cư, đồng thời thu hút được nhiều lao động vào tham gia sản xuất mà không đòi hỏi trình độ cao hay mất nhiều thời gian đào tạo.
Ngoài ra, DNNVV có nhiều thuận lợi trong khai thác các tiềm năng về trí tuệ, tay nghề tinh xảo, bí quyết nghề nghiệp,…Việc phát triển các doanh nghiệp sản xuất các ngành nghề truyền thống ở nông thôn là một trong những hướng quan trọng để sử dụng tay nghề của các nghệ nhân hiện nay đang bị mai một dần, nhằm thu hút lao động nông thôn và phát huy lợi thế của từng vùng để phát triển kinh tế. - Bảo đảm cho nền kinh tế năng động hơn Do có lợi thế về tính năng động, tổ chức bộ máy gọn nhẹ, vốn ít, DNNVV dễ thích ứng với những biến động của thị trường, có nhiều khả năng -9- thay đổi mặt hàng, chuyển nhượng sản xuất, đổi mới công nghệ,…Đối với doanh nghiệp lớn, DNNVV còn có thể làm đại lý, vệ tinh tiêu thụ hàng hóa hoặc cung cấp vật tư đầu vào với giá rẻ hơn, góp phần hạ giá thành, nâng cao hiệu quả sản xuất cho doanh nghiệp lớn.