Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng hoạt động cho vay đối với DNNVV của các NHTM Chương 2: Thực trạng chất lượng cho vay DNNVV tại ngân hàng TMCP Quân Đội - Chi nhánh Long An từ 2018 – 2021. Chương 3: Khuyến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay DNNVV tại ngân hàng TMCP Quân Đội - Chi nhánh Long An. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DNNVV CỦA CÁC NHTM 1. Những vấn đề cơ bản về cho vay DNNVV 1.
Khái niệm Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác (Quy định tại Khoản 14 - Điều 4 - Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010). Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi (Quy định tại Khoản 16 - Điều 4 - Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010). Như vậy có thể hiểu cho vay là một hình thức cơ bản trong hoạt động cấp tín dụng. Hoạt động cho vay là vô cùng quan trọng đối với các ngân hàng, mang lại nguồn thu chính và trực tiếp cho các ngân hàng.
Trong hoạt động cho vay, các ngân hàng trực tiếp thực hiện việc giao tiền hoặc thông qua tài khoản cho các khách hàng sử dụng số tiền vay. Khách hàng sau khi vay tiền phải sử dụng theo đúng mục đích và thời gian đã cam kết đối với các ngân hàng. Thời gian và mục đích sử dụng khoản vay đã được khách hàng và ngân hàng thỏa thuận và ký kết bằng hợp đồng tín dụng. Trong hoạt động cho vạy, nếu phân loại theo đối tượng khách hàng thì hoạt động cho vay bao gồm cho vay khách hàng doanh nghiệp, cho vay khách hàng cá nhân và cho vay tổ chức tài chính.
Trong cho vay khách hàng doanh nghiệp được phân chia cụ thể thành cho vay khách hàng doanh nghiệp lớn và cho vay khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ngày 11/03/2018 Chính phủ ban hành Nghị định số 39/2018/NĐ-CP quy định về hướng dẫn luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo đó doanh nghiệp nhỏ 7 và vừa (DNNVV) được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa và tiêu chí xác định như sau: 1. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng.
Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này.
Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này. Như vậy, theo quy định mới của pháp luật thì tiêu chí xác định doanh nghiệp 8 nhỏ và vừa đã có sự thay đổi như: - Doanh nghiệp siêu nhỏ: Có số lao động tham gia BHXH bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ hoặc nguồn vốn không quá 3 tỷ. - Doanh nghiệp nhỏ: Có số lao động tham gia BHXH bình quân không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ - Doanh nghiệp vừa: Có số lao động tham gia BHXH bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ. Theo quy định chung của các ngân hàng thương mại, tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể được đánh giá như sau: - Doanh nghiệp siêu nhỏ: Có doanh thu bình quân 3 năm gần nhất dưới 100 tỷ đồng.
- Doanh nghiệp nhỏ: Có doanh thu bình quân 3 năm gần nhất từ 100 tới 500 tỷ đồng. - Doanh nghiệp vừa: Có doanh thu bình quân 3 năm gần nhất từ 500 tới 1. Cho vay doanh nghiệp nói chung và cho vay DNNVV nói riêng là khoản cho vay tài chính doanh nghiệp nhằm đáp ứng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Mục đích của các doanh nghiệp thường là bổ sung vốn lưu động, mua thiết bị máy móc, hoặc đầu tư khác.
Ngân hàng sẽ cấp cho doanh nghiệp quyền sử dụng một khoản tiền với những điều kiện nhất định được các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nhằm phục vụ các mục đích nêu trên của khách hàng trong một thời hạn nhất định, theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Đặc điểm cho vay DNNVV a) Nhu cầu vốn vay đa dạng. Các khoản cho vay đối với khách hàng DNNVV thường là các khoản có giá trị ở mức trung bình (thường ở mức không quá 200 tỷ đồng/khách hàng). Khách hàng DNNVV có nhu cầu vốn vay đa dạng, tựu 9 chung lại thành ba nhóm lớn như sau: Thứ nhất là phương án vay vốn lưu động để phục vụ sản xuất kinh doanh.
Đây là nhu cầu vay chiếm phần lớn cơ cấu cho vay của DNNVV trong thời điểm hiện nay. Thứ hai là phương án vay vốn phục vụ nhu cầu đầu tư dự án, mua sắm máy móc thiết bị, tài sản cố định. Khoản vay này cho mục đích này trực tiếp phục vụ việc triển khai và vận hành dự án hoặc cho nhu cầu mua sắm tài sản, công cụ, máy móc thiết bị phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh như mua nhà đất văn phòng; xây dựng, sửa chữa nhà xưởng; đầu tư máy móc thiết bị, phương tiện vận tải,… b) Đặc trưng về rủi ro - Rủi ro thông tin bất cân xứng: Đối với khách hàng là DNNVV, việc nắm bắt thông tin khách hàng là tương đối thuận lợi do có rất nhiều nguồn thông tin được công khai như: báo cáo tài chính được kiểm toán, thông tin xếp hạng tín dụng, tình hình nộp thuế, uy tín quan hệ với các đối tác… Tuy nhiên, hiện tại các doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng vẫn đang vận hành 02 hệ thống báo cáo tài chính là báo cáo tài chính nội bộ và báo cáo tài chính thuế, ngoài ra một vài đơn vị còn sử dụng báo cáo tài chính được kiểm toán, do vậy thông tin giữa các loại hình báo cáo tài chính trên còn nhiều khác biệt. - Rủi ro tác nghiệp: Do đặc điểm của cho vay khách hàng cá nhân là quy mô mỗi khoản vay nhỏ nhưng số lượng khoản vay lớn, vì vậy để có thể đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng nhằm nâng cao kết quả công việc đòi hỏi sự phục vụ nhanh chóng của CBTD.
Do đó, trong quá trình thẩm định hồ sơ tín dụng các cán bộ thường hay chủ quan, thậm chí lợi dụng sự lỏng lẻo của công tác quản lý và sơ hở của các quy định để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của khách hàng, hoặc thông đồng với khách hàng gây ra những tổn thất cho ngân hàng. Rủi ro này còn tăng lên đối với cho vay tín chấp, do ngân hàng cấp tín dụng 10 trên cơ sở thẩm định uy tín của khách hàng tốt hay xấu mà không có biện pháp đảm bảo bằng tài sản. Trong trường hợp đó, nếu khách hàng thực sự không có khả năng trả nợ vay hoặc có khả năng, nhưng không có ý thức trả nợ vay trong khi việc quản lý thông tin về sự thay đổi nơi cư trú, công việc của khách hàng là một điều không dễ dàng thì sẽ rất khó khăn cho ngân hàng khi xử lý khoản vay để thu hồi nợ. c) Đặc trưng về chất lượng và thời hạn khoản vay Các khoản cho vay đối với các khách hàng DNNVV chỉ có chất lượng tốt khi không có những biến cố từ phía khách hàng.
Bên cạnh đó các khoản vay thường có tính rủi ro cao (như khoản vay có tài sản đảm bảo là hàng tồn kho/quyền đòi nợ) được các ngân hàng cho vay áp dụng mức lãi suất cao hơn trong bảng lãi suất cho vay áp dụng đối với các khoản vay trong các NHTM. Thời hạn của khoản vay được xác định dựa theo mục đích của từng khoản vay và các gói sản phẩm áp dụng cho từng khách hàng và sẽ ảnh hưởng tới lãi suất của khoản vay. Do đó với những Khách hàng DNNVV thuộc các nhóm ngành được ưu tiên của các NHTM theo từng thời kỳ sẽ được thực hiện chính sách lãi suất linh hoạt: trên cơ sở lãi suất cơ bản từng thời kỳ, áp dụng cơ chế lãi suất ưu đãi đối với các DNNVV, đảm bảo mức lãi suất cho vay đối với các DNNVV thuộc ngành ưu tiên sẽ thấp hơn từ 0,5% - 1%/năm so với mức lãi suất cho vay thông thường.3 Vai trò cho vay DNNVV Ngân hàng là doanh nghiệp đặc biệt chuyên kinh doanh tiền dưới hình thức huy động vốn, cho vay, đầu tư và cung cấp các dịch vụ khác.