chương 1 sẽ đưa ra những thông tin sơ bộ giới thiệu về đề tài nghiên cứu bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp của nghiên cứu và kết cấu của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu Nội dung của chương 2 sẽ tổng hợp lại các cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu, thông qua các cơ sở lý luận để đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 3 trình bày nội dung tổng quan về phương pháp nghiên cứu bao gồm quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, thang đo trong nghiên cứu cũng như tổng hợp các công cụ phân tích dữ liệu thực hiện trong nghiên cứu. Chương 4: Kết quả và thảo luận Chương 4 trình bày về kết quả nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu được phân tích thông qua các phần: thống kê mô tả dữ liệu nghiên cứu, kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach'S Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích tương quan, phân tích hồi quy và thảo luận về kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Chương 5 nêu ra những kết luận chính trong nghiên cứu, kết quả khi thực hiện nghiên cứu, đồng thời nội dung của chương cũng đề cập đến một số hàm ý quản trị, những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC 2.1 Quản trị nguồn nhân lực 2.1 Nguồn nhân lực Theo Trần Kim Dung (2016), nguồn nhân lực của một tổ chức là nguồn lực con người được hình thành dựa trên khả năng sáng tạo ra các của cải vật chất, tinh thần cho xã hội; nguồn nhân lực có thể là nguồn lực của một đất nước, một vùng lãnh thổ, một ngành nghề, một tổ chức hay một doanh nghiệp hoạt động ở hiện tại hoặc trong tương lai. Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc (1996), nguồn nhân lực được hiểu là tất cả những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, năng lực, sự sáng tạo của con người mà liên quan đến sự phát triển của cá nhân hay đất nước.
Nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực về con người và được xem như nguồn vốn có vai trò tương tự các loại nguồn lực vật chất khác như tài chính, tài nguyên thiên nhiên, công nghệ… Hiểu theo nghĩa rộng nguồn nhân lực được xem là nguồn lực quan trọng cung cấp sức lao động cho xã hội, nguồn lực con người cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của một tổ chức, một đất nước và được hiểu là toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. Nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì nguồn nhân lực là nguồn lực chủ yếu có khả năng lao động cho xã hội, đây là nguồn lực tham gia chính và các hoạt động kinh tế - xã hội, đặc biệt là những nhóm nhân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào các hoạt động sản xuất, lao động; nguồn lực này bao gồm cả về trí lực, thể lực. Từ những định nghĩa trên có thể hiểu nguồn nhân lực là nguồn lực con người, được hình thành dựa trên việc sáng tạo ra các của cải vật chất cho xã hội. Nguồn nhân lực bao gồm thể lực và trí lực.
Dù trong xã hội hay trong bất kỳ hoàn cảnh nào đây cũng là nguồn lực quan trọng có ảnh hưởng đến sự thành công của các nhân, tổ chức, đất nước… Đối với hoạt động của doanh nghiệp nguồn nhân lực là tập hợp các cá nhân tham gia vào bất kỳ hoạt động nào để giúp doanh nghiệp đạt được mục đích, mục tiêu và tổ chức đặt ra, bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng được hình thành dựa trên các thành viên là các cá nhân đó. Đặc biệt trong thời buổi hiện nay, nguồn nhân lực lại 9 càng đóng vai trò quan trọng có ảnh hưởng đến vị thế cũng như kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường.2 Quản trị nguồn nhân lực Theo Mathis & Jackson (2007), quản trị nguồn nhân lực là hoạt động thiết kế một cách có hệ thống để đảm bảo hiệu quả sử dụng nguồn lực con người từ đó giúp tổ chức đặt được các mục tiêu đề ra. Theo Trần Kim Dung (2016), quản trị nguồn nhân lực là một hệ thống bao gồm các chính sách, triết lý, hoạt động có liên quan đến các chức năng về thu hút, đào tạo, duy trì và phát triển nguồn lực con người của tổ chức để đạt được kết quả tối ưu. Theo Hà Văn Hội (2018), Quản trị nguồn nhân lực được xem là hoạt động giúp doanh nghiệp thu hút, xây dựng, phát triển, phân phối đánh giá và xây dựng lực lượng lao động phù hợp về số lượng, chất lượng giúp doanh nghiệp: - Phát huy được năng lực làm việc của con người một cách tối đa - Tạo điều kiện để người lao động nhiệt tình, gắn kết và hăng hái với công việc - Quản trị nguồn nhân lực cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công và thất bại của doanh nghiệp.
Quản trị nguồn nhân lực đóng vai trò trung tâm trong các hoạt động điều hành của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có thể tồn tại, đi lên trong cạnh tranh. Theo Trần Kim Dung (2018), quản trị nguồn nhân lực vao gồ ba chức năng chính đó là: thu hút nhân lực, đào tạo và phát triển, duy trì nguồn lực. - Nhóm chức năng thu hút nguồn lực chú trọng đến việc đảm bảo số lượng nhân sự cũng như phẩm chất của nhân sự phù hợp với các công việc trong doanh nghiệp. Chức năng này chú trọng đến hoạt động hoạch định nguồn nhân lực (lên kế hoạch, đảm bảo doanh nghiệp có đúng số lượng người với phẩm chất, kỹ năng phù hợp với công việc thực tế của doanh nghiệp để đạt được hiệu quả cao từ đó giúp doanh nghiệp đạt được đến mục tiêu đã đề ra); phân tích công việc (là tổng hợp quá trình từ việc tìm hiểu đến nghiên cứu, điều tra về các nhiệm vụ cụ thể của từng công việc, từng chức danh trong doanh nghiệp; xem 10 xét về trình độ, kỹ năng, các yêu cầu cần thiết để mô tả công việc, đưa ra các tiêu chuẩn công việc cho từng chức danh đó); tuyển dụng (hoạt động tìm kiếm, tuyển chọn, thu hút người lao động có nguyện vọng, có khả năng để làm việc phù hợp với chức năng nào đó tại tổ chức hoặc doanh nghiệp).
- Nhóm chức năng đào tạo và phát triển: hoạt động này để duy trì, nâng cao chất lượng nguồn lực trong tổ chức và là yếu tố quyết định đến sự thành công của tổ chức. Theo Guest (1997), đào tạo và phát triển là chính sách quan trọng để doanh nghiệp có thể đạt được văn hóa mới, tăng sự gắn kết giữa các thành viên; đồng thời thông qua đào tạo có thể giúp nhân sự tiếp thu được những kiến thức, kỹ năng, thay đổi các quan điểm cũng như hành vi để thực hiện tốt công việc của mình. Nhóm chức năng này chú trọng chủ yếu đến việc nâng cao năng lực của nhân sự, đảm bảo nhân sự có đầy đủ trình độ, kỹ năng để hoàn thành công việc được giao, thông qua đào tạo các nhân sự cũng có thể phát triển được năng lực của bản thân, để phục vụ cho công việc, thậm chí trong đời sống hằng ngày. - Nhóm chức năng duy trì nguồn nhân lực bao gồm hoạt động quản lý đánh giá kết quả thực hiện, trả công cho người lao động, các chính sách để duy trì nguồn nhân lực đặc biệt là những người chất lượng, gắn bó lâu với tổ chức.2 Chất lượng nguồn nhân lực Theo Phạm Minh Hạc, chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá là khả năng các nhân sự trong tổ chức có thể hoàn thành được công việc được giao, phù hợp với các tiêu chuẩn của tổ chức.
Ngày nay các doanh nghiệp đặc biệt chú trọng đến nguồn nhân lực chất lượng cao đặc biệt là đội ngũ nhân lực có trình độ, có năng lực để tiếp cận các tiến bộ của khoa học công nghệ, bắt kịp với sự phát triển của kinh tế cũng như giúp doanh nghiệp nâng cao vị thế cạnh tranh trên thị trường. Chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá dựa trên trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, các kỹ ăng về lao động, khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi của công nghệ sản xuất; bên cạnh đó nhân lực có chất lượng đó là những nhân lực có phẩm chất tốt, có sức khỏe tốt, có khả năng để vận dụng sáng tạo những tri thức, những ký năng và đã được đào tạo 11 trong quá trình sản xuất để đem lại chất lượng, năng suất lao động, hiệu quả công việc cao. Theo Phùng Tân (2012) chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá thông qua các yếu tố như năng lực làm việc, phẩm chất đạo đức. Theo Mai Quốc Chánh chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá qua các yếu tố liên quan đến sức khỏe, chuyên môn, năng lực phẩm chất của người lao động đó.
Các yếu tố để đánh giá về chất lượng nguồn nhân lực bao gồm: - Phẩm chất đạo đức, đặc biệt là đạo đức nghề nghiệp: Chất lượng nguồn lực được đánh giá dựa vào các yếu tố liên quan đến phẩm chất đạo đức như tâm huyết trong công việc, không gian lận… đây được xem là tiêu chí cơ bản và nhiều doanh nghiệp xem tiêu chí đánh giá nhân lực dựa trên phẩm chất đạo đức cũng như thái độ của họ. Đạo đức của con người được thực hiện dựa trên tình cảm, thói quen, tập quán phong cách, truyền thống, quan niệm, đạo đức cá nhân, hình thái tư tưởng… đạo đức cũng gắn liền với các giá trị truyền thống văn hóa. - Nguồn lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, những lao động có khả năng để thích ứng với sự thay đổi trong công việc, đặc biệt có khả năng giải quyết các công việc phát sinh trong các tình huống. Các lao động cần phải thích ứng với sự thay đổi, có khả năng và tự giác trong việc học hỏi để phát triển bản thân.
- Khả năng sáng tạo trong công việc: Nguồn nhân lực cần có khả năng sáng tạo trong công việc, đây là yếu tố để giúp doanh nghiệp có thể có những ý tưởng mới, những ý tưởng độc đáo để đưa doanh nghiệp ngày càng phát triển. - Yếu tố về thể lực: Một trong những yếu tố để đánh giá chất lượng của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là yếu tố thể lực.