CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau định nghĩa về doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các định nghĩa này chủ yếu phụ thuộc vào quốc gia, chiến lược phát triển của mỗi đất nước cụ thể. Theo quy định của EU trong hiệp ước EU 2003/361 DNNVV được định nghĩa dựa trên 2 yếu tố chính là: Số lượng nhân lực (staff headcount) và Doanh thu/ Tổng tài sản (turnover or total assets). Bảng 1-1: Phân loại DNNVV theo tiêu chuẩn của EU Phân loại công Số lượng nhân lực Doanh thu Tổng tài sản ty (người) (EUR) (EUR) DN Vừa < 250 ≤ € 50m ≤ € 43m DN Nhỏ < 50 ≤ € 10m ≤ € 10m DN Vi mô <10 ≤ € 2m ≤ € 2m (Nguồn: European Community, 2018) Đối với Singapore, cách phân loại và định nghĩa về DNNVV tương tự với EU khi dựa vào 2 tiêu chí phân loại chính là số lượng lao động sử dụng và Doanh thu hàng năm của doanh nghiệp để phân loại doanh nghiệp.
Bảng 1-2: Phân loại DNNVV theo tiêu chuẩn của Singapore Phân loại công ty Số lượng nhân lực (người) Doanh thu (SGD) DN Vừa 51-100 10 triệu – 100 triệu DN Nhỏ 6-50 1 triệu -10 triệu DN Vi mô 1-5 <1 triệu (Nguồn:https://www.net/figure/SME-Definition-inSingapore_tbl 2 _290219773) 8 Có thể thấy rằng định nghĩa về doanh nghiệp nhỏ và vừa khác nhau giữa tiêu chuẩn EU và Singapore do đó khó có một định nghĩa cụ thể đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa chung giữa các quốc gia. Tại Việt Nam, để hỗ trợ đối tượng DNNVV trên cả nước tiếp cận được những ưu đãi cũng như tạo điều kiện dễ dàng trong việc xác định đối tượng là DNNVV, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 38/2018/NĐ-CP về Quy định chi tiết một số điều của Luật hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa, thì DNNVV được xác định dựa trên các tiêu chí sau: Bảng 1-3: Tiêu chí phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam (Đơn vị: người/tỷ đồng) Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Lĩnh vực Số lượng Tổng Số lượng Tổng lao động doanh thu lao động doanh thu 1. Nông nghiệp, lâm < 100 < 50 < 200 < 200 nghiệp, thủy sản 2. Công nghiệp và xây < 100 < 50 < 200 < 200 dựng 3.
Thương mại và dịch vụ < 50 < 100 < 100 < 300 (nguồn: Nghị định 38/2018/NĐ-CP) Cách phân loại doanh nghiệp tại Việt Nam cũng dựa trên cơ sở phân loại của các nền kinh tế hoặc tổ chức kinh tế lớn trên thế giới trong đó việc phân loại vẫn dựa trên Tổng doanh thu/Tổng nguồn vốn và số lượng lao động. Tóm lại DNNVV là loại hình doanh nghiệp mang một số đặc điểm nhất định tuân theo các quy định của pháp luật của mỗi một quốc gia đồng thời phù hợp với các tiêu chí cụ thể của Chính phủ nhằm đáp ứng những yêu cầu của phát triển kinh tế và xã hội.2 Đặc điểm của DNNVV ở Việt Nam Hoạt động của các DNNVV luôn gắn liền với thể chế chính sách và trình 9 độ phát triển của quốc gia đó. Nhìn chung, các DNNVV cũng mang những đặc điểm tương đồng với DNNVV ở các nước đang phát triển, bao gồm những đặc điểm như sau: Nguồn vốn đầu tư ban đầu nhỏ với ít chi phí quản lý, đào tạo. Khi quyết định thành lập doanh nghiệp, các nhà đầu tư chỉ cần một lượng vốn đầu tư ban đầu nhỏ là có thể lựa chọn loại hình doanh nghiệp này.
Do ít vốn, chi phí quản lý, đào tạo không lớn nên các DNNVV thường có xu hướng hướng vào những lĩnh vực phục vụ trực tiếp đời sống, những sản phẩm có giá cả hợp lý, dễ tiêu thụ, chu kỳ kinh doanh ngắn, khả năng thu hồi vốn nhanh. Cũng vì quy mô không lớn, bộ máy gọn nhẹ nên các DNNVV có khả năng chuyển đổi mặt hàng nhanh chóng phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, tận dụng được nguồn nguyên, nhiên vật liệu, nhân lực tại chỗ do có mối quan hệ trực tiếp với thị trường và người tiêu dùng. Vì vậy các DNNVV có khả năng huy động được các nguồn lực xã hội, các nguồn vốn còn tiềm ẩn trong dân, nhờ đó có thể tạo ra được nhiều loại sản phẩm với mức giá cạnh tranh, có sức mua cao. DNNVV có tính năng động và linh hoạt trước những biến đổi của thị trường.
Khi gặp biến động của môi trường kinh doanh, doanh nghiệp dễ dàng thu hẹp quy mô sản xuất tránh được tổn thất lớn và nhanh chóng thích nghi với môi trường mới. Điển hình là các DNNVV có thể sử dụng các máy móc thiết bị sản xuất trong nước; dễ dàng thay đổi công nghệ, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật mà không cần quá nhiều chi phí vì có thể kết hợp cả những công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, sản xuất những sản phẩm có chất lượng cao trong điều kiện không thuận lợi. Đây là lợi thế của các DNNVV so với doanh nghiệp lớn vì các doanh nghiệp lớn để quyết định thay đổi công nghệ cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về vốn, nhân lực, ứng dụng…sau đó mới đi vào 10 thực thi, quá trình này đòi hỏi nguồn đầu tư rất lớn. DNNVV ít chịu ảnh hưởng của biến động kinh tế xã hội mang tính dây chuyền nhờ quy mô nhỏ.
Bên cạnh đó nếu bản thân các doanh nghiệp đang làm ăn không hiệu quả dẫn tới thua lỗ đến phá sản thì ảnh hưởng của nó cũng không gây nên những biến động sang các doanh nghiệp khác hoặc gây khủng hoảng kinh tế. DNNVV có khả năng chấp nhận rủi ro, mạo hiểm vì xuất phát từ quy mô nhỏ, vốn đầu tư không lớn nên doanh nghiệp có thể mạnh dạn tham gia vào những ngành mới, lợi nhuận ban đầu thấp hoặc những ngành sản xuất ra sản phẩm cũng chỉ đáp ứng nhu cầu cá biệt. Hoạt động quản lý con người có nhiều lợi thế và độ lan truyền nhanh DNNVV có số lao động không lớn nên mối quan hệ giữa người quản lý và người lao động khá chặt chẽ, gắn bó. Công tác điều hành mang tính trực tiếp, không qua nhiều khâu trung gian, các quyết định quản lý được đưa ra và thực hiện nhanh chóng, công tác kiểm tra giám sát được tiến hành chặt chẽ vì vậy có thể tiết kiệm tối đa chi phí quản lý.
Bên cạnh đó người quản lý có thể nắm được tâm tư nguyện vọng của người lao động dễ dàng, tạo điều kiện cho nhà quản lý trong việc đưa ra các chính sách quản lý phù hợp, giúp người lao động phát huy hết được khả năng của mình. DNNVV khó tiếp cận các kênh huy động vốn. Với đặc trưng quy mô doanh nghiệp là nhỏ và vừa, vốn điều lệ ban đầu thấp (dưới 10 tỷ đồng) nên các DNNVV thường không đáp ứng được vốn cho đầu tư. Nguồn tài chính hạn hẹp, quy mô lợi nhuận nhỏ dẫn đến lợi nhuận để lại làm vốn để tái sản xuất kinh doanh ít, giá trị tài sản thuần thấp (tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp sau khi trừ đi nợ phải trả), uy tín trên thương trường không cao nên các nhà đầu tư coi đây là khu vực nhiều rủi ro.
Nhiều DNNVV chưa đủ năng lực lập kế hoạch kinh doanh, phương án đầu tư, tài sản đảm bảo 11 không đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng. Cũng vì năng lực tài chính còn yếu, chưa đảm bảo tính minh bạch trong hoạt động tài chính nên các DNNVV gặp nhiều trở ngại khi tham gia vào thị trường tài chính, khó khăn trong việc phát hành trái phiếu hay cổ phiếu công ty để huy động vốn trên thị trường chứng khoán. Năng lực ứng dụng công nghệ trong sản xuất kinh doanh và quản lý còn hạn chế. Để thành công trong một nền kinh tế cạnh tranh cao như hiện nay, các doanh nghiệp phải thường xuyên thay đổi công nghệ, máy móc, thiết bị, các phương pháp, bí quyết sản xuất.
Nhưng nguồn tài chính hạn chế đã khiến cho các DNNVV không có điều kiện đầu tư quá nhiều vào việc nâng cấp, đổi mới máy móc, mua sắm thiết bị công nghệ tiên tiến, hiện đại, càng không thể tập trung nhiều vào công tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật. Bên cạnh đó đại đa số những người chủ của các DNNVV không có kiến thức, thông tin, kinh nghiệm về những vấn đề liên quan đến máy móc và công nghệ để lựa chọn, mua và chuyển đổi công nghệ. Với nhiều người, mua công nghệ chỉ đơn giản là mua máy móc, thiết bị. Họ không quan tâm hoặc quan tâm không đầy đủ đến các phương pháp và bí quyết sản xuất.
Do ảnh hưởng của tư duy sản xuất nhỏ và một phần là do thiếu vốn, rất nhiều DNNVV đầu tư nhỏ giọt, làm từng phần, mỗi năm mua thêm một số máy móc, thiết bị vừa làm vừa cải tiến. Hậu quả của cách làm đó là công nghệ được sử dụng trong các doanh nghiệp này trở nên hỗn độn và lạc hậu. Thị trường của DNNVV chỉ chiếm một thị phần nhỏ và năng lực cạnh tranh hạn chế. Do hạn chế về vốn, công nghệ, lao động nên các DNNVV chỉ hoạt động trong phạm vi nhỏ, đáp ứng yêu cầu cho một đoạn thị trường nhất định.
Việc sử dụng các công nghệ lạc hậu dẫn đến chất lượng sản phẩm không cao, tính 12 cạnh tranh trên thị trường kém. Hạn chế về tài chính cũng khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc quảng bá thương hiệu đến người tiêu dùng, các chiến lược Marketing như: chiến lược sản phẩm, chiến lược về giá, chiến lược phân phối…đều đòi hỏi tiềm lực tài chính đủ mạnh. Việc phát triển thị trường, xây dựng thương hiệu của các DNNVV mới ở giai đoạn đầu. Các DNNVV chưa thật sự chú trọng đến việc mở rộng thị trường, chưa chú trọng đầu tư vào khâu phân tích, dự đoán xu thế chung của thị trường để phát triển và xây dựng những chiến lược lâu dài mà chủ yếu chỉ kinh doanh mang tính thời vụ đáp ứng nhu cầu tức thời của thị trường.
Thị trường tiêu thụ sản phẩm của các DNNVV còn gặp không ít khó khăn từ những nguyên nhân như quyền sở hữu công nghiệp chưa được thực hiện nghiêm túc, sản phẩm của các doanh nghiệp luôn bị tấn công do việc xuất hiện các mặt hàng giả, hàng nhái, hàng nhập lậu…Cùng với sự độc quyền của một số doanh nghiệp lớn khiến cho sức cạnh tranh của các DNNVV trên thị trường nội địa càng nhỏ, chỉ chiếm một phần rất nhỏ trên thị trường. Năng lực quản lý, điều hành của người lãnh đạo và chất lượng lao động chưa tốt và có nhiều hạn chế.