Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về chất lƣợng cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại NHTM. - Chương 2: Thực trạng chất lƣợng cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Hà Tây. - Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nâng cao chất lƣợng cho vay đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Hà Tây. 3 Em xin trân trọng cảm ơn đến các thầy cô giáo trong khoa Ngân hàng nói riêng và thầy cô trong trƣờng Học viện Ngân hàng đã trực tiếp giảng dạy em trong quá trình học tập vừa qua.
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn cô giáo Hà Thị Sáu, ngƣời đã hƣớng dẫn và tận tình chỉ bảo cho em trong quá trình thực hiện khóa luận này. Em cũng xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo và tập thể cán bộ làm việc tại NHTMCP Ngoại thƣơng - Chi nhánh Hà Tây đã nhiệt tình giúp em hiểu rõ hơn về tình hình hoạt động của Ngân hàng. Với thời gian thực tập và kiến thức chuyên môn còn hạn chế, nội dung khóa luận khó tránh khỏi thiếu sót. Chính vì vậy em rất mong nhận đƣợc những ý kiến đóng góp chỉ bảo của các thầy cô giáo cũng nhƣ các bạn sinh viên quan tâm.
Em xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, tháng 5 năm 2016 Sinh viên Bùi Thị Thu Trang 4 CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƢỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NHTM 1. Những vấn đề chung về Doanh nghiệp vừa và nhỏ 1. Khái niệm về Doanh nghiệp vừa và nhỏ Thông thƣờng, dựa trên quy mô vốn và số lƣợng lao động mà mỗi quốc gia có cách phân chia các loại hình Doanh nghiệp.
Tại Việt Nam, theo Điều 3, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP, Doanh nghiệp vừa và nhỏ đƣợc định nghĩa nhƣ sau: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: Bảng 1.1: Quy định về loại hình Doanh nghiệp theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 Quy mô Doanh Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nghiệp siêu nhỏ Khu vực Số lao Tổng Số lao Tổng nguồn Số lao động động nguồn vốn động vốn I. Nông, lâm nghiệp 10 ngƣời 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 và thủy sản trở xuống trở xuống ngƣời đến đồng đến ngƣời đến 200 ngƣời 100 tỷ đồng 300 ngƣời II. Công nghiệp và 10 ngƣời 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 xây dựng trở xuống trở xuống ngƣời đến đồng đến ngƣời đến 200 ngƣời 100 tỷ đồng 300 ngƣời III. Thƣơng mại và 10 ngƣời 10 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 dịch vụ trở xuống trở xuống ngƣời đến đồng đến 50 ngƣời đến 50 ngƣời tỷ đồng 100 ngƣời ( Nguồn: Điều 3 Nghị định 56/2009/NĐ – CP về trợ giúp phát triển DNV&N) 5 1.
Đặc điểm của Doanh nghiệp vừa và nhỏ Hiện nay, cả nƣớc có khoảng trên 500 nghìn doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), chiếm 97,5% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động. Hàng năm, các doanh nghiệp SME đóng góp khoảng 40% GDP và thu hút 51% lực lƣợng lao động của cả nƣớc. Điều đó cho thấy DNV&N là một bộ phận không thể thiếu trong nền kinh tế với các đặc điểm nổi bật riêng bao gồm: - Thứ nhất là thiếu vốn, quy mô hoạt động nhỏ bé: Hầu hết các DNV&N có quy mô nhỏ, nguồn vốn hạn hẹp. Vì vậy họ thƣờng xuyên gặp khó khăn về mặt bằng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, trình độ công nghệ, cùng với đó là năng lực hạn chế, thiếu thông tin dẫn đến yếu kém trong sản xuất, kinh doanh.
Tuy rằng số lƣợng DNV&N chiếm 97,5% trên tổng số DN trên cả nƣớc nhƣng số vốn đăng ký của các DNV&N này chỉ chiếm khoảng 30% tổng số vốn kinh doanh của các DN trong cả nƣớc. - Thứ hai là do nguồn vốn nhỏ hẹp nên các DNV&N thường tập trung vào các ngành hàng gần gũi với người tiêu dùng hơn là các ngành công nghiệp nặng, sản suất khai thác cần nhiều vốn: Ở Việt Nam, theo Cục xúc tiến thƣơng mại (2015) trong cơ cấu ngành nghề, khoảng 43% doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, 24% trong lĩnh vực thƣơng mại và phân phối, số còn lại hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ và liên quan đến nông nghiệp. - Thứ ba là năng lực cạnh tranh của các DNV&N còn quá yếu, kém: Hiện nay thì đa phần các DNV&N vẫn chƣa đáp ứng đƣợc đúng nhu cầu của thị trƣờng về giá thành, uy tín, thƣơng hiệu cũng nhƣ đội ngũ lao động với tay nghề cao. Trong thời gian gần đây, số DNV&N tiến hành đăng ký thƣơng hiệu tuy có tăng nhƣng chiếm một tỷ lệ rất nhỏ.
Điều đó dẫn đến những thua thiệt lớn của một số DN, nhất là các DN xuất khẩu ra thị trƣờng nƣớc ngoài. - Thứ tư là DNV&N khó thu hút được các nhà quản lý và lao động giỏi: Với quy mô sản xuất nhỏ, sản phẩm tiêu thụ ít, năng lực cạnh tranh kém, các DNV&N khó có thể thu hút đƣợc đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao vì cơ chế trả lƣơng không hấp dẫn cùng sự thiếu sự vững chắc trong hoạt động kinh doanh. 6 - Thứ năm là DNV&N chịu sự tác động lớn từ môi trường bên ngoài: Đó là sự quản lý của Nhà nƣớc thông qua Luật Doanh nghiệp, các chính sách thuế, chính sách tín dụng thƣơng mại, chính sách giáo dục đào tạo và việc làm,… vẫn còn tồn tại nhiều bất cập. Cùng với đó là sự rối loạn của thị trƣờng nhƣ thiếu hụt thông tin, thị trƣờng vốn bất ổn, hàng lậu tràn lan,… gây nhiều khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DNV&N.
Vai trò của Doanh nghiệp vừa và nhỏ Qua những con số biết nói về tỷ lệ đóng góp của DNV&N đối với nền kinh tế, chúng ta không thể nào phủ nhận đƣợc vai trò to lớn của họ, cụ thể nhƣ sau: - DNV&N giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế Giúp ổn định nền kinh tế, ổn định các vấn đề vĩ mô nhƣ: thất nghiệp, lạm phát, đóng góp vào GDP, tăng trƣởng kinh tế… Số liệu thống kê của Bộ kế hoạch – đầu tƣ cho thấy mỗi năm các DNV&N ở Việt Nam đóng góp khoảng 35% - 40% GDP cả nƣớc, 35% tổng giá trị sản lƣợng công nghiệp, 71% tổng khối lƣợng luân chuyển hàng hóa. Bên cạnh đó các DNV&N còn góp phần giữ gìn các làng nghề truyền thống, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc trong tăng trƣởng kinh tế. - Góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành, theo khu vực và thành phần kinh tế, để có thể tạo ra được một cơ cấu kinh tế có tính đổi mới hơn và thích ứng cao hơn. Do DNV&N hoạt động trong nhiều ngành nghề khác nhau, khi trao đổi buôn bán sẽ tạo ra đƣợc sự chuyển dịch về vốn, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
Giúp tăng tỷ trọng đóng góp của các ngành thƣơng mại, dịch vụ, chuyển dịch nền kinh tế theo hƣớng công nghiệp phát triển. - DNV&N giúp khai thác tiềm năng phong phú về vốn trong dân cư để đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Việc ngày càng xuất hiện nhiều DNV&N, với khả năng hoạt động tốt, lành mạnh đã tạo dần nếp suy nghĩ cho ngƣời dân nên đầu tƣ vào sản xuất kinh doanh thay vì trƣớc đây tiền nhàn rỗi chỉ biết giữ, gửi tiết kiệm hoặc mua vàng cất trữ. DNV&N là trụ cột của kinh tế địa phƣơng, do các doanh nghiệp lớn thƣờng đặt tại các trung tâm kinh tế, còn DNV&N có mặt ở hầu hết các địa bàn, giúp giải quyết nhanh chóng việc làm cho lao động địa phƣơng, yếu tố sản xuất tại cơ sở.
7 - DNV&N cung cấp đa dạng hóa sản phẩm cho thị trường DNV&N rất đa dạng về ngành nghề sản xuất và cung ứng nhiều loại sản phẩm, dịch vụ thỏa mãn cả nhu cầu trong nƣớc và đẩy mạnh xuất khẩu. Nƣớc ta có lợi thế về ngành nghề thủ công truyền thống nên các DNV&N đã tận dụng sản xuất, gia công chế biến các sản phẩm phục vụ xuất khẩu. Vốn của Doanh nghiệp vừa và nhỏ - Nhu cầu vốn đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ: Nhu cầu về vốn để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và chủ động trong việc hội nhập kinh tế toàn cầu đang là vấn đề cấp thiết cho các doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. - Các nguồn cung cấp vốn cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ: Nguồn vốn tín dụng từ các Ngân hàng và các tổ chức tài chính khác Các DNV&N hiện nay vẫn thực hiện huy động vốn từ tín dụng Ngân hàng là chủ yếu.
Theo đó, ƣớc tính có đến trên 82% lƣợng vốn cung ứng cho DNV&N là từ kênh Ngân hàng. Nhƣng theo một điều tra mới đây của Cục Phát triển doanh nghiệp (Bộ Kế hoạch - Đầu tƣ), chỉ có 34,48% DNN&V có khả năng tiếp cận đƣợc các nguồn vốn của các Ngân hàng; 37,54% khó tiếp cận và 33,86% không tiếp cận đƣợc. Nguồn vốn này khó tiếp cận do các DNV&N không đáp ứng đầy đủ thủ tục cấp tín dụng của Ngân hàng và quy trình cho vay tại các Ngân hàng vẫn còn quá rƣờm rà. Nguồn vốn từ tín dụng thƣơng mại Đây là nguồn vốn mà doanh nghiệp chiếm dụng đƣợc từ các bên thứ 3 (trừ Ngân hàng), ví dụ nhƣ: trả chậm lƣơng cho công nhân, mua chịu vật tƣ hàng hoá, nộp chậm lại thuế phải nộp… Phần vốn chiếm dụng này không bị mất phí, giúp Doanh nghiệp tiệt kiệm đƣợc thuế thu nhập doanh nghiệp, nhƣng nếu chậm trễ trong việc trả nợ sẽ gây ra khó khăn cho doanh nghiệp.
Nguồn vốn trên thị trƣờng tự do Nguồn vốn này do doanh nghiệp huy động từ các doanh nghiệp, tổ chức, công ty có vốn nhàn rỗi khác, hay từ gia đình, bạn bè, các thành viên trong doanh nghiệp. Phƣơng thức huy động này không đòi hỏi phải có thế chấp, thủ tục không phức tạp nhƣng lãi suất thì thƣờng cao, số lƣợng vốn vay thƣờng hạn chế về mặt lƣợng. Vì vậy, nguồn vốn huy động từ thị trƣờng tự do thƣờng tỏ ra phù hợp với những doanh 8 nghiệp có nhu cầu vốn gấp.