MỞ ĐẦU Giới thiệu khái quát về tầm quan trọng và sự cần thiết nghiên cứu của đề tài, nêu lên mục tiêu chung, mục tiêu cụ thể, và nội dung nghiên cứu của đề tài. Chƣơng 2: CỞ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Trong chƣơng này, trình bày một cách tổng quan những khái niệm về tín dụng ngân hàng, rủi ro tín dụng và quy trình cho vay DNVVN cũng nhƣ những Luan van 5 nhân tố ảnh hƣởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của DNVVN.Trình bày mô hình nghiên cứu thực nghiệm. Chƣơng 3: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chƣơng này nêu và phân tích một cách tổng quát về thực trạng tiếp cận tín dụng của các DNVVN tại thị xã Dĩ An. trình bày phƣơng pháp thu thập dữ liệu, phƣơng pháp phân tích dữ liệu.
Chƣơng 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN Trình bày kết quả nghiên cứu và thảo luận. Kết quả phân tích dựa trên số liệu thứ cấp và số liệu sơ cấp điều tra trực tiếp tại thị xã Dĩ An. Trên cơ sở đó phân tích đƣợc các nhân tố ảnh hƣởng đến khả năng tiếp cận vốn tín dụng của DNVVN, đồng thời đƣa ra một số giải pháp giúp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho các DNVVNtại thị xã Dĩ An. Chƣơng 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Trình bày kết luận và kiến nghị các giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận vốncủa các DNVVN hoạt động trong lĩnh vực thƣơng mại và dịch vụ.
Luan van 6 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Giới thiệu Trình bày thông tin về cơ sở lý thuyết, các mô hình lý thuyết đã đƣợc nghiên cứu trƣớc để từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu cùng các giả thuyết mô hình,những vấn đề liên quan đến khái niệm tiếp cận vay tín dụng của các DNVVN cũng đƣợc nêu một cách chọn lọc phù hợp với mục đích nghiên cứu. Tổng quan về tín dụng, rủi ro tín dụng 2. Khái niệm tín dụng Theo Lê Văn Tề, tín dụng (Credit) có nguồn gốc từ tiếng La Tinh – Credittum – tức là sự tin tƣởng, tín nhiệm hoặc là sự tin tƣởng hoặc tín nhiệm đó, hoặc vay mƣợn sự tin tƣởng hoặc tín nhiệm đó để thực hiện các quan hệ vay mƣợn một lƣợng giá trị vật chất hoặc tiền tệ trong một thời gian. Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đómột bên chuyển giao một lƣợng giá trị sang cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận đƣợc phải cam kết trả với lƣợng giá trị lớn theo thời hạn đã thỏa thuận.
Tín dụng là sự vận động đơn phƣơng của giá trị từ ngƣời cho vay sang ngƣời đi vay và sẽ quay về với ngƣời cho vay cả vốn và lãi trong một kì hạn xác định nào đó. Đặc điểm của tín dụng thể hiện: Khoản vay sẽ quay về với ngƣời cho vay; Khoản vay sẽ đƣợc trả cho một ngƣời hƣởng thụ nào đó đƣợc ngƣời cho vay chỉ định; Giá trị cho vay thể hiện dƣới nhiều hình thức nhƣ tiền, vật chất (tín dụng thƣơng mại), tài sản (tín dụng thuê mua); Tín dụng là sự vay mƣợn uy tín của ngƣời khác dƣới hình thức bảo lãnh, thƣờng đƣợc coi là tín dụng bằng chữ ký. Nguyễn Đăng Dờn (2009) cũng cho rằng: (1) Tín dụng là sự chuyển giao quyền sử dụng một số tiền, tài sản (hiện vật) từ chủ thể này sang chủ thể khác, không làm thay đổi quyền sở hữu chúng. (2) Tín dụng bao giờ cũng có thời hạn Luan van 7 và phải đƣợc hoàn trả.
(3) Giá trị tín dụng không những đƣợc bảo tồn mà còn đƣợc nâng cao nhờ lợi tức tín dụng. Các tổ chức tín dụng: Theo Luật các Tổ chức tín dụng, điều 20 quy định: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp đƣợc thành lập theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung cấp dịch vụ thanh toán”. Tín dụng ngân hàng: Theo Lê Thị Mận (2010), nêu khái niệm tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền giữa một bên là ngân hàng với một bên là khách hàng của ngân hàng thƣơng mại. Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền giữa bên cho vay (Ngân hàng và các định chế tài chính) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ tể kinh tế khác) trong đó bên cho vay ứng trƣớc vốn bằng tiền cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Khi đề cập đến khái niệm tín dụng ngân hàng, Nguyễn Đăng Dờn (2009)[6] cũng cho rằng, tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng với các tổ chức kinh tế, các tổ chức và cá nhân đƣợc thực hiện dƣới hình thức ngân hàng đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay đối với các đối tƣợng trên. Phân loại tín dụng Theo Lê Văn Tề (2009), trong nền kinh tế, xã hội, nếu căn cứ vào chủ thể trong quan hệ tín dụng thì phân ra làm các hình thức tín dụng nhƣ: (1) Tín dụng thƣơng mại, là quan hệ tín dụng giữa các nhà doanh nghiệp, đƣợc thể hiện dƣới hình thức mua bán chịu hàng hóa; (2) Tín dụng Ngân Hàng, là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các nhà doanh nghiệp và cá nhân; (3) Tín dụng nhà nƣớc, là quan hệ tín dụng trong đó Nhà nƣớc biểu hiện là ngƣời đi vay. Nếu phân theo thời hạn tín dụng thì có ba loại: (1) Tín dụng ngắn hạn, là loại tín dụng có thời hạn dƣới một năm, thƣờng đƣợc sử dụng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lƣu động của các doanh nghiệp, hộ kinh doanh và Luan van 8 cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân; (2) Tín dụng dài hạn, là tín dụng có thời hạn trên năm năm, đƣợc sử dụng để cấp vốn cho đầu tƣ xây dựng cơ bản, nhà máy, xí nghiệp, cơ sở hạ tầng (đƣờng, cảng), mở rộng quy mô sản xuất; (3) Tín dụng trung hạn, là loại tín dụng ở giữa hai kỳ trên, đƣợc cung cấp để mua sắm tài sản cố định, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh. Phân theo đối tƣợng tín dụng thì có (1) Tín dụng vốn lƣu động, là loại tín dụng cấp vốn để hình thành vốn lƣu động nhƣ dự trữ hàng, mua nguyên nhiên vật liệu; (2) Tín dụng vốn cố định, là loại tín dụng cấp phát để hình thành tài sản cố định, đầu tƣ máy móc thiết bị.
Ngoài ra, phân loại theo mục đích sử dụng vốn, thì có tín dụng sản xuất và lƣu thông hàng hóa, tín dụng tiêu dùng. Nguyên tắc của tín dụng Với đặc thù kinh doanh tiền tệ ẩn chứa nhiều rủi ro, vì mọi rủi ro của khách hàng bất luận lý do gì đều ảnh hƣởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Để giảm thiểu rủi ro các ngân hàng thƣờng chủ động phân loại và lựa chọn khách hàng tốt nhất, hoạt động có hiệu quả, bảo đảm khả năng sinh lợi cho đơn vị và ngân hàng. Sự lựa chọn này dựa trên nguyên tắc tín dụng, đƣợc Ngân hàng nhà nƣớc quy định, cụ thể là: Khách hàng phải cam kết hoàn trả vốn gốc và lãi với thời gian xác định, theo nguyên tắc này ngân hàng, tổ chức tín dụng tùy theo tình hình thực tế xây dựng kế hoạch kinh doanh, dòng tiền để đáp ứng nhu cầu thanh toán.
Với nguồn gốc vốn huy động từ khoản tiền gửi của khách hàng nên Ngân hàng phải trả gốc và lãi theo cam kết. Do vậy, các khoản vốn cho vay cũng thực hiện theo nguyên tắc này. Khách hàng phải cam kết sử dụng vốn đúng mục đích đã thỏa thuận với ngân hàng, những thỏa thuận không trái với quy định hiện hành của luật pháp và các quy định hiện hành của ngành, theo nguyên tắc đồng thuận. Thực hiện nguyên tắc này ngân hàng sẽ quản lý khách hàng của mình sử dụng vốn đúng với mục đích, yêu cầu, nội dung quy mô, tiến độ thực hiện dự án đã đƣợc thẩm định có hiệu quả.
Nếu khách hàng không sử dụng đúng mục đích tài trợ đƣợc Luan van 9 ghi trong hợp đồng tín dụng, thì rủi ro lớn ảnh hƣởng đến khoản vốn vay, vì vậy cam kết sử dụng đún mục đích điều này giúp cho ngân hàng quản lý vốn một cách hiệu quả. Điều kiện bảo đảm tín dụng Theo quy định của Ngân hàng nhà nƣớc, các tổ chức tín dụng xem xét cho vay khi khách hàng có đủ các điều kiện cần thiết, nhƣ sau: (1) Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm hành vi dân sự theo quy định của pháp luật; (2) Có mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp; (3) Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết, có vốn tự có đối ứng thực hiện; (4) Có dự án đầu tƣ, phƣơng án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu quả; (5) Thực hiện quy định về đả bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ và hƣớng dẫn của Ngân hàng Nhà nƣớc. Vai trò của tín dụng Trong điều kiện kinh tế nƣớc ta hiện nay, tín dụng có vai trò nhƣ: (1)Đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình sản xuất, kinh doanh đƣợc liên tục đồng thời góp phần đầu tƣ phát triển kinh tế; (2) Thúc đẩy nền kinh tế phát triển; (3) Là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và ngành mũi nhọn; (4) Góp phần tác động đến việc tăng cƣờng chế độ hạch toán kinh tế của các doanh nghiệp; (5) Tạo điều kiện để phát triển các quan hệ kinh tế với nƣớc ngoài. Bên cạnh những vai trò tích cực của tín dụng nêu trên, Nguyễn Đăng Dờn (2009) còn nhấn mạnh thêm tác dụng của tín dụng trong việc góp phần ổn định tiền tệ, giá cả trong nền kinh tế, thông qua chức năng của mình giảm khối lƣợng tiền trong lƣu thông, cứng ứng tiền từ nơi thừa qua nơi thiếu … góp phần ổn định đời sống, tạo việc làm và ổn định trật tự xã hội nhờ việc thúc đẩy nền kinh tế tăng trƣởng, cung cấp hàng hóa phục vụ tốt cho ngƣời dân, khai thác mọi tiềm năng sẵn có về tài nguyên, lao động để sản xuất…thu hút và tạo việc làm cho xã hội.