CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TÍN CHẤP DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1. Tổng quan nghiên cứu Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng hiện đang là đầu tàu trong hoạt động cho vay tín chấp đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Kết quả đạt được đã thể hiện rất rõ qua những kết quả vượt trội về tăng trưởng cũng những thành tích, giải thưởng được trao trong năm 2016 – 2017. Để có thể hiểu rõ những yếu tố đã giúp loại hình cho vay này thành công như vậy chúng ta cần nghiên cứu sâu về các tiêu chí đánh giá xếp hạng doanh nghiệp và thống nhất về quy trình thẩm định để rút ngắn thời gian chờ đợi vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Trước đây cũng đã có những đề tài nghiên cứu về hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ cụ thể như sau: Lê Văn Cử (2013), “Giải pháp phát triển tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Phát triển Thành Phố Hồ Chí Minh – Chi nhánh Thăng Long”, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học Viện Ngân Hàng. Luận văn đã hệ thống hóa một cách toàn diện cơ sở lý luận, các tiêu chí đánh giá được đưa ra rất cụ thể và rõ nét để làm căn cứ phân tích sâu hơn trong việc đánh giá hoạt động tín dụng của chi nhánh, tuy nhiên đây là các tiêu chí đánh giá hoạt động tín dụng của doanh nghiệp vừa và nhỏ nói chung bao gồm cả hình thức vay có tài sản bảo đảm, không đánh giá và phân tích được hoạt động cho vay tín chấp doanh nghiệp vừa nhỏ. Luận văn tìm ra được những giải pháp đặc biệt để phát triển hoạt động vay tín chấp. Huỳnh Thu Hiền (2012), “Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh ngân hàng thương mại tại Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Quảng Ngãi”, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế Đà Nẵng.
Luận văn đưa ra được những phương án khá tốt, khá chi tiết về các 6 phương pháp hạn chế rủi ro và nâng cao chất lượng tín dụng đối với hoạt động cho vay doanh nghiệp, các phương pháp đưa ra đều khá sát với tính hình thực trạng thực tế tại ngân hàng qua đó có thể giúp ngân hàng giải quyết các vấn đề còn tồn tại. Thêm vào đó đề tài cũng đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp, so sánh giữa các ngân hàng để tổng hợp và đưa ra những phương án, phương pháp tối ưu nhằm phát triển tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy nhiên do phạm vi nghiên cứu của đề tài chuyên về hạn chế rủi ro nên chưa phân tích sâu về các giải pháp thiên về phát triển. Võ Đức Toàn (2012) “Tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ của ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn tiến sĩ kinh tế, Đại học Ngân Hàng TP Hồ Chí Minh.
Luận văn đã hệ thống rất chi tiết cơ sở lý luận và đưa ra các giải pháp rất thực tế phù hợp để áp dụng cho các ngân hàng thương mại cổ phần. Tuy nhiên phạm vi nghiên cứu của đề tài cùng với đối tượng phân tích khá rộng chưa thực sự đánh giá chính xác được tình hình hoạt động của chi nhánh cụ thể. Nguyễn Thị Nga (2014) “Chất lượng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - Chi nhánh Thăng Long”, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học quốc gia Hà Nội. Luận văn đã đưa ra được cái nhìn tổng quát về hoạt động tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại một chi nhánh của ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín trong cùng một quy mô với chi nhánh Hà Thành mà tác giả dự kiến nghiên cứu.
Tuy nhiên các giải pháp mà luận văn đưa ra đã không phù hợp để áp dụng phát triển với ngân hàng VPBank do chính sách, định hướng phát triển và nguồn lực của 2 ngân hàng là không giống nhau. Đoàn Thế Mạnh (2013) “Cho vay tín chấp tại chi nhánh ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Quảng Ninh- Thực trạng và giải pháp”, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Ngoại Thương. Luận văn đã nêu lên được tính cấp thiết của đề tài, làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động cho vay tín chấp doanh nghiệp mà tác giả đang nghiên cứu. Tuy nhiên luận văn chưa tập trung nghiên cứu sâu về hoạt động cho vay tín chấp doanh nghiệp tại chi nhánh mà đang đánh giá tổng quát hoạt động cho vay tín 7 chấp, điều này dẫn đến việc phân tích và đưa ra các giải pháp chưa thực sự sát với đối tượng khách hàng doanh nghiệp.
Hiện tại các luận văn trước đây mới chỉ tập trung chỉ yếu vào hoạt động cho vay có tài sản bảo đảm, hơn nữa sản phẩm tín chấp dành cho doanh nghiệp có tuổi đời khá ít, khá mới mẻ và rất phức tạp nên chưa thực sự được quan tâm, và chưa có một luận văn nào chi tiết được phân tích và đánh giá hiệu quả và phát triển hoạt động này, do đó tác giả muốn thông qua luận văn này đánh giá lại các tiêu chí cho vay tín chấp tại ngân hàng VPBank nói chung và cụ thể hơn là chi nhánh VPBank Hà Thành nói riêng, đưa ra giải pháp phát triển hơn nữa hoạt động này để vay tín chấp là một trong các hoạt động hiện thực hóa cam kết “đồng hành cùng doanh nghiệp vừa và nhỏ” của VPBank cũng như danh hiệu “Ngân hàng dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tốt nhất Việt Nam”. Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay tín chấp các doanh nghiệp vừa và nhỏ 1. Khái niệm và đặc điểm của DNVVN 1. Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ Căn cứ Điều 6 Nghị định 39/2018/NĐ-CP ban hành ngày 11/03/2018, thì doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa.
Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân 8 năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này.
Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này. Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ Tại Việt Nam, nếu chỉ xét các doanh nghiệp có đăng ký thì tỷ lệ doanh nghiệp vừa và nhỏ lên tới trên 95% tổng số doanh nghiệp. Từ đó, có thể thấy vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam là vô cùng lớn. Đóng góp của họ vào tổng sản lượng và tạo việc làm là rất đáng kể.
Để có thể lý giải được tại sao số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại lớn như vậy chúng ta cần phải hiểu được đặc điểm của phân khúc loại hình doanh nghiệp này. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam thường có những ưu và nhược điểm sau: ➢ Ưu điểm - Các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường có quy mô vốn nhỏ nên việc thành lập tương đối dễ dàng và thuận tiện, nhất là trong bối cảnh các chính sách của nhà nước ngày một hỗ trợ cho loại hình doanh nghiệp này. - Bộ máy có tỏ chức sản xuất kinh doanh và quản lý của họ cũng gọn nhẹ, tiết kiệm tối đa chi phí. Các doanh nghiệp này thường hoạt động khá độc lập, tự chủ nên dễ dàng thỏa thuận tiền lương và điều chỉnh hoạt động sản xuất ki cần thiết.
9 - Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy mô nhỏ về cả vốn và lao động nên nhạy cảm hơn nhiều với những biên động của thị trường, họ thường có khả năng tiếp cận và đáp ứng tốt hơn các nhu cầu nhỏ lẻ so với doanh nghiệp lớn. Đồng thời họ thường dễ dàng tiếp cận với các công nghệ mới hiện đại để nâng cao năng lực cạnh tranh cũng như theo kịp nhu cầu của thị trường. - Ở phần lớn các nền kinh tế, các doanh nghiệp vừa vả nhỏ là những nhà thầu phụ cho các doanh nghiệp lớn. Sự điều chỉnh các hợp đồng thầu phụ tại các thời diểm cho phép nền kinh tế có được sự ổn định cần thiết.
Chính vì vậy, doanh nghiệp vừa và nhỏ còn được ví là thanh giảm sốc cho nền kinh tế. Đặc biệt, có một số doanh nghiệp vừa và nhỏ chú trọng việc chuyên môn hóa sản phẩm, từ đó tạo ra các sản phẩm có tính ưu việt và vượt trội hơn so với thị trường. - Nếu như các doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế trên cả nước thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại có mặt ở khắp các địa phương nhằm cung cấp kịp thời và chính xác tới nhu cầu của từng khách hàng. Đồng thời, việc có mặt tại khắp các vững miền trên cả nước của họ cũng góp phần quan trọng vào thu ngân sách, tăng trưởng sản lượng và đặc biệt là giải quyết bài toán việc làm tại địa phương họ có mặt.