Chương 1. Cơ sở lý luận về hiệu quả cho vay giải quyết việc làm tại ngân hàng Chương 2. Thực trạng hiệu quả hoạt động cho vay giải quyết việc làm tại chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Hà Giang. Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay giải quyết việc làm tại chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Hà Giang.
8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM TẠI NGÂN HÀNG 1. Tổng quan về việc làm và giải quyết việc làm 1. Khái niệm về việc làm và giải quyết việc làm Theo Bộ Luật lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2019: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà pháp luật không cấm. Theo quan điểm của tổ chức lao động quốc tế, người có việc làm là người làm việc trong các lĩnh vực, các ngành nghề, không bị pháp luật ngăn cấm đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời góp một phần cho xã hội.
Như vậy, có thể hiểu việc làm là phạm trù kinh tế xã hội biểu hiện sự kết hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất nhằm biến đổi đối tượng lao động theo những mục đích của con người (tạo ra thu nhập, ra của cải vật chất hoặc thoả mãn nhu cầu nào đó), phù hợp với những quy định của pháp luật. Theo nghĩa rộng: Tạo việc làm bao gồm những vấn đề liên quan đến việc phát triển và sử dụng có hiệu quả các nguồn nhân lực. Quá trình đó diễn ra từ việc tạo cơ sở về mặt trí tuệ, tinh thần sức khỏe để chuẩn bị nhân lực có tri thức, có kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, có sức khỏe dồi dào, có tác phong làm việc tốt tạo điều kiện cho người lao động có thể tự do và sáng tạo, hưởng đúng thành quả lao động do chính mình tạo ra. Theo nghĩa này, chính sách tạo việc làm cho người lao động phải gắn liền với chính sách giáo dục đào tạo, chính sách văn hóa, y tế … Theo nghĩa hẹp: Tạo việc làm là tạo ra nhiều chỗ làm việc.
Theo nghĩa này chính sách tạo việc làm chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp chưa có hoặc thiếu việc làm, ổn định làm việc và tạo thêm chỗ làm việc mới. Qua những phân tích trên, ta thấy rằng giải quyết việc làm cho người lao động là một chỉ tiêu không thể thiếu để đánh giá về vị thế kinh tế - xã hội của một quốc gia. Nó có mối quan hệ mật thiết và ảnh hưởng qua lại với tình hình kinh tế của đất nước. Phát triển kinh tế để giảm nạn thất nghiệp và ngược lại giảm tỷ lệ thất 9 nghiệp để tăng trưởng kinh tế bền vững.
Vì vậy, vấn đề tạo việc làm cho người lao động luôn luôn là cấp thiết đối với mọi quốc gia trên thế giới. Giải quyết việc làm là việc tạo ra các cơ hội để người lao động có việc làm và tăng được thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình và cộng đồng xã hội. Giải quyết việc làm là nhằm khai thác triệt để tiềm năng của một con người, nhằm đạt được việc làm hợp lý và việc làm có hiệu quả. Chính vì vậy GQVL phù hợp có ý nghĩa quan trọng đối với người lao động ở chỗ tạo cơ hội cho họ thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình.
Trong đó có quyền cơ bản nhất là quyền được làm việc nhằm nuôi sống bản thân và gia đình góp phần xây dựng quê hương đất nước. Giải quyết việc làm có thể được hiểu ở các khía cạnh như sau: Một là, quá trình tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt. Số lượng, chất lượng tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, vốn đầu tư, tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng trong sản xuất và khả năng quản lý, sử dụng đối với các tư liệu sản xuất đó; Hai là, quá trình tạo ra số lượng và chất lượng sức lao động. Số lượng lao động phụ thuộc vào quy mô, tốc độ tăng dân số, các quy định về độ tuổi lao động và sự di chuyển của lao động.
Chất lượng lao động phụ thuộc vào sự phát triển của giáo dục đào tạo, y tế, thể chất và chăm sóc sức khỏe cộng đồng; Ba là, quá trình tạo ra những điều kiện kinh tế - xã hội khác, như các chính sách của Nhà nước, các giải pháp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, các giải pháp để duy trì việc làm ổn định và đạt hiệu quả cao. Chỉ khi nào trên thị trường, người lao động và người sử dụng lao động gặp gỡ và tiến hành trao đổi thì khi đó việc làm được hình thành. Giải quyết việc làm cần phải được xem x t cả phía người lao động, người sử dụng lao động và vai trò của Nhà nước. Vì vậy, GQVL là tổng thể các biện pháp, chính sách kinh tế – xã hội từ vi mô đến vĩ mô tác động đến người lao động có thể có việc làm.
10 Tham gia vào quá trình GQVL có nhiều thành phần: Nhà nước, các doanh nghiệp, ngân hàng chính sách, các đoàn thể và cá nhân từng người lao động trong toàn xã hội. Như vậy, giải quyết việc làm cho người lao động là quá trình tạo ra những cơ hội sử dụng tối đa sức lao động kết hợp với tư liệu sản xuất trong phát triển kinh tế - xã hội mang lại thu nhập hợp pháp cho người lao động, người sử dụng lao động và cho xã hội. Tình trạng thất nghiệp và tác động của thất nghiệp đến phát triển kinh tế Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc, nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công đang thịnh hành. Hậu quả kinh tế của tình trạng thất nghiệp phụ thuộc vào những chi phí liên quan đến thất nghiệp, cả trên giác độ từng hộ gia đình cũng như toàn xã hội.
Thất nghiệp dẫn đến "cú sốc" giảm sút thu nhập của hộ gia đình và mọi hậu quả tiêu cực đi kèm theo. Trên khía cạnh kinh tế vĩ mô, có thể chia ra làm hai loại chi phí liên quan đến thất nghiệp: Chí phí bằng tiền (chủ yếu là tiền từ ngân sách và các quỹ xã hội); Lãng phí sản phẩm xã hội do không sử dụng đầy đủ các yếu tố sẵn có của sản xuất xã hội. Những chi phí bằng tiền bao gồm tiền từ ngân sách Nhà nớc và các quỹ của doanh nghiệp cũng như của xã hội chi cho bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc cùng các chi phí xã hội khác cho chơng trình chống thất nghiệp. Chi phí bằng tiền liên quan đến thất nghiệp còn bao gồm việc giảm sút ngân sách quốc gia.
Người thất nghiệp không có thu nhập, không đóng thuế, chỉ đóng ít hoặc không đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội. Chi phí của chính phủ cho tình trạng thất nghiệp lớn sẽ dẫn đến hậu quả gia tăng thâm hụt ngân sách. Lãng phí nhất đối với xã hội là không sử dụng đầy đủ các yếu tố sẵn có của sản xuất. Hậu quả kinh tế của thất nghiệp còn phải kể đến những mất mát liên quan đến sự di cư ra nước ngoài của một bộ phận dân cư, chủ yếu là thanh niên có trình độ học vấn, tay nghề cao nhng không tìm đợc việc làm ở trong nước.
11 Tăng nhanh thất nghiệp trở thành một trong những vấn đề nhức nhối nhất của xã hội. Thất nghiệp không chỉ đồng nghĩa với tình trạng vật chất ngày càng xấu đi mà còn kèm theo những hậu quả tâm lý - xã hội mà người thất nghiệp cũng như xã hội phải gánh chịu. Sự cần thiết của giải quyết việc làm Việc làm đang là vấn đề bức xúc có tính thời sự không chỉ đối với nước ta mà còn đối với tất cả các nước trên thế giới, sức p về việc làm đang ngày càng gia tăng. Vì vậy giải quyết việc làm là một trong những mục tiêu quan trọng của nước ta hiện nay.
Mà đối tượng để giải quyết việc làm chính là con người, cụ thể là người lao động, một lực lượng chiếm tỷ lệ rất lớn và đóng vai trò quan trọng trong xã hội. Như vậy, việc làm có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đó là động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội. Tỷ lệ thất nghiệp cao còn là một mối đe dọa thật sự đối với ổn định xã hội của bất cứ quốc gia nào. Vì vậy, thách thức đối với Chính phủ là đưa ra được các chính sách có hiệu quả về việc làm, chương trình bảo hiểm thất nghiệp, dịch vụ tư vấn, hướng dẫn về nghề nghiệp và các dịch vụ việc làm khác đáp ứng những nhu cầu cụ thể của thanh niên.
Vì vậy, tạo việc làm càng đóng vai trò quan trọng hơn nữa cho sự phát triển vì: Tạo việc làm đầy đủ cho người lao động không những tạo điều kiện để người lao động tăng thu nhập, nâng cao đời sống đồng thời giảm các tệ nạn xã hội, làm cho xã hội ngày càng văn minh hơn. Tạo việc làm đầy đủ cho người lao động còn có ý nghĩa quan trọng ở chỗ: tạo cơ hội cho người lao động thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, trong đó quyền cơ bản nhất của họ là quyền được làm việc nhằm nuôi sống bản thân và gia đình, góp phần xây dựng đất nước. Khái quát về cho vay giải quyết việc làm tại ngân hàng 1. Khái niệm cho vay giải quyết việc làm Theo Luật Các tổ chức tín dụng: cấp tín dụng là việc Tổ chức tín dụng thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho ph p sử dụng một khoản tiền trong một thời gian nhất định theo nguyên tắc có hoàn trả bằng 12 nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Cho vay là một hình thức cơ bản trong hoạt động cấp tín dụng. Hoạt động cho vay không thể thiếu đối với các ngân hàng vì hiện tại hoạt động này đem lại nguồn thu chính cho ngân hàng. Ngân hàng trực tiếp giao tiền hoặc giao qua tài khoản cho khách hàng sử dụng số tiền vay. Khách hàng sau khi vay tiền không được tùy ý sử dụng mà phải sử dụng theo đúng mục đích và thời gian nhất định.