MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong công cuộc đổi mới phát triển của đất nước, Đảng - Nhà nước ta đó có nhiều chủ trương, chính sách, các chương trình, dự án nhằm đẩy nhanh tiến độ phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là chương trình, mục tiêu quốc gia hỗ trợ giảm nghèo và việc làm luôn được quan tâm. Thực hiện chức năng nhiệm vụ của tổ chức Hội nông dân, Hội cựu chiến binh và Hội phụ nữ là chăm lo, đại diện cho các tầng lớp nông dân, cựu chiến binh, phụ nữ trên địa bàn. Các hội nhận thức sâu sắc về vị trí và tầm quan trọng của công tác giảm nghèo là một vấn đề có tính chất lâu dài, đòi hỏi phải có sự phối hợp của các cấp, các ngành, các tổ chức và của chính người nghèo, việc hỗ trợ người dân phát triển kinh tế không chỉ tính đến hiệu quả kinh tế mà mà còn tính đến hiệu quả xã hội, coi đây là một nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt trong quá trình hoạt động của Hội, bởi vì nghèo đói, thiếu việc làm tác động mạnh mẽ đến mỗi gia đình, điều này ảnh hưởng lớn đến sự bình đẳng, tiến bộ và phát triển của người nghèo.
Nhận thấy vay vốn để phát triển sản xuất luôn là nhu cầu cấp bách của người nghèo. Do vậy Thực hiện Điều 5 Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ, Ngân hàng Chính sách xã hội và các tổ chức chính trị - xã hội (3 tổ chức chính trị - xã hội gồm: Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Hội Liên hiệp Phụ nữ), đã ký văn bản liên tịch với NHCSXH tỉnh Thái Nguyên để tổ chức thực hiện dịch vụ ủy thác vay vốn hộ nghèo và các đối tượng chính sách trên địa bàn phường. Từ khi thành lập, NHCSXH tiếp tục triển khai chương trình cho vay hộ nghèo, nhận bàn giao chương trình cho vay HSSV từ Ngân hàng Công thương Việt Nam và nhận bàn giao chương trình cho vay vốn giải quyết việc làm từ Kho bạc Nhà nước. n 2 Tìm hiểu hoạt động ủy thác tín dụng của ngân hàng CSXH tỉnh Thái Nguyên và tình hình hoạt động ủy thác của các Hội hiện nay ra sao để thấy được sự tác động hoạt động ủy thác tín dụng đến sự phát triển kinh tế của hộ dân như thế nào.
Từ đó quan sát và học hỏi được những vấn đề liên quan đến hoạt động ủy thác tín dụng mà Hội đang làm. Qua đó em lựa chọn đề tài “Tìm hiểu hoạt động nhận uỷ thác tín dụng của các tổ chức từ ngân hàng chính sách xã hội trên địa bàn phƣờng Quang Vinh – Tp. Thái Nguyên” với mong muốn tiếp cận vào thực tế, tìm hiểu, học hỏi hoạt động ủy thác tín dụng của NHCSXH tại các Hội, góp phần thực hiện thắng lợi trong công tác hỗ trợ giảm nghèo và giải quyết việc làm tại địa phương. Mục tiêu nghiên cứu 1.
Về vấn đề nghiên cứu - Tìm hiểu ðiều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của phýờng. - Tìm hiểu hoạt ðộng ủy thác tín dụng của NHCSXH ðến các Hội trên ðịa bàn phýờng. - Tìm hiểu vai trò trách nhiệm của các tổ chức Hội trong quá trình cho các hộ có nhu cầu vay vốn tín dụng. - Tìm hiểu ðýợc sự tiếp cận của ngýời dân trong quá trình vay vốn tín dụng trên ðịa bàn.
- Những khó khãn và thuận lợi của các hộ dân khi tham gia vay vốn. Về kỹ nãng sống và làm việc - Thực hiện tốt giờ giấc làm việc của cõ quan, chấp hành nghiêm chỉnh trong những nội quy của cõ sở thực tập. - Có trách nhiệm với những công việc ðýợc giao phó. - Tìm hiểu và vận dụng ðýợc các kiến thức ðã học vào thực tế và làm việc.
- Biết học hỏi, lắng nghe những lời phê bình của ngýời khác. - Học hỏi ðýợc kỹ nãng lập kế hoạch cá nhân, kế hoạch tuần, tháng. một cách khoa học. - Học hỏi kỹ nãng viết báo cáo.
Nội dung và phýõng pháp thực hiện 1. Nội dung thực tập - Tìm hiểu ðặc ðiểm cõ bản của phýờng Quang Vinh. - Tình hình hoạt ðộng nhận ủy thác tín dụng của phýờng Quang Vinh và hoạt ðộng ủy thác tín dụng của NHCSXH của tỉnh Thái Nguyên hoạt ðộng thế nào. - Ảnh hýởng của hoạt ðộng ủy thác tín dụng tới tổ chức Hội nhý thế nào.
- Tác ðộng của hoạt ðộng ủy thác ðến với các ðối týợng ðýợc hýởng vay vốn. - Những khó khãn và thuận lợi của các hộ dân khi tham gia vay vốn. Phýõng pháp nghiên cứu 1. Phýõng pháp thu thập thông tin thứ cấp Phýõng pháp thu thập thông tin thứ cấp là phýõng pháp thu thập các thông tin, số liệu có sẵn thýờng có trong các báo cáo của ðõn vị ðýợc ủy thác tín dụng hoặc các tài liệu ðã công bố.
Các thông tin này thýờng ðýợc thu thập từ các cõ quan, tổ chức, vãn phòng. + Các báo cáo sõ kết, tổng kết của ðõn vị ðýợc ủy thác tín dụng hoặc các tài liệu ðã công bố. + Số liệu thống kê của UBND phýờng thu thập ở trên báo, trên internet liên. Phýõng pháp thu thập thông tin sõ cấp Khi dữ liệu thứ cấp không có sẵn hoặc không thể giúp trả lời các câu hỏi nghiên cứu của chúng ta, chúng ta phải tự mình thu thập dữ liệu cho phù hợp với vấn đề nghiên cứu đặt ra.
Các dữ liệu tự thu thập này được gọi là dữ liệu sơ cấp. Hay nói cách khác, dữ liệu sơ cấp là dữ liệu do chính người nghiên cứu thu thập. + Phỏng vấn những người am hiểu về hoạt động ủy thác tín dụng. Phương pháp thống kê mô tả Thống kê mô tả được sử dụng để mô tả những đặc tính cơ bản của dữ liệu thu thập được từ nghiên cứu thực nghiệm qua các cách thức khác nhau.
Thống kê mô tả và thống kê suy luận cùng cung cấp những tóm tắt đơn giản về mẫu và các thước đo. Cùng với phân tích đồ họa đơn giản, chúng tạo ra nền tảng của mọi phân tích định lượng về số liệu. Để hiểu được các hiện tượng và ra quyết định đúng đắn, cần nắm được các phương pháp cơ bản của mô tả dữ liệu. Có rất nhiều kỹ thuật hay được sử dụng.
Có thể phân loại các kỹ thuật này như sau: Biểu diễn dữ liệu thành các bảng số liệu tóm tắt về dữ liệu. Thống kê tóm tắt (dưới dạng các giá trị thống kê đơn nhất) mô tả dữ liệu. Phương pháp phân tích xử lý số liệu Số liệu được xây dựng và sử dụng để phân tích tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra để đưa ra được những kết luận về quá trình nhận ủy thác tín dụng. - Các số liệu thu thập được sẽ được xử lý bằng các phần mềm tin học như Word,.
Thời gian và địa điểm thực tập - Thời gian: Từ ngày 22/8/2016 đến ngày 20/12/2016. - Địa điểm: UBND phường Quang Vinh, Tp. n 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN 2. Về cơ sở lý luận 2.
Một số khái niệm liên quan đến nội dung thực tập 2. Một số khái niệm niệm tín dụng, tín dụng nông thôn và hệ thống tín dụng nông thôn Khái niệm tín dụng Theo Đại từ điển kinh tế thị trường “Tín dụng là những hành động cho vay và bán chịu hàng hóa và vốn giữa những người sở hữu khác nhau. Tín dụng không phải là hoạt động vay tiền đơn giản mà là hoạt động vay tiền có điều kiện, tức là phải bồi hoàn thanh toán lợi tức. Tín dụng là hình thức đặc thù vận động giá trị khác với lưu thông hàng hóa đơn thuần: Vận động giá trị nên dẫn tới phương thức mượn tài khoản, bồi hoàn giá trị thanh toán”[1].
Tín dụng là “Phạm trù kinh tế thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người đi vay, trong quan hệ này người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hóa cho người đi vay trong thời gian nhất định, khi tới thời hạn trả nợ người đi vay có nghĩa vụ hoàn trả số tiền hoặc hàng hóa cho người cho vay kèm theo một khoản lãi”[1]. Theo nghĩa nguyên thủy, tín dụng là sự tin tưởng, tín nhiệm mà cho vay mượn các loại vật tư, hàng hóa, tiền tệ. Như vậy, tín dụng không chỉ là sự vay mượn thông thường mà là sự vay mượn với một mức tín nhiệm nhất định; Tức là khi thực hiện quyền cho vay, người cho vay tin vào khả năng trả nợ của người đi vay. Hiểu theo nghĩa rộng, tín dụng là một loại quan hệ xã hội biểu hiện mối liên hệ kinh tế, trước hết là dựa trên cơ sở niềm tin.
Tín dụng tồn tại và hoạt động là yếu tố khách quan và cần thiết cho sự phát triển mạnh mẽ, với các mối quan hệ cung cầu về tiền vốn như một đòi hỏi cần thiết khách quan của nền kinh tế. Tín dụng là một hiện tượng kinh tế n 6 nảy sinh trong điều kiện sản xuất hàng hóa. Sự ra đời và phát triển của tín dụng không chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu điều hòa vốn trong xã hội mà còn là một động lực thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế đất nước. Khái niệm tín dụng nông thôn Tín dụng nông thôn là bất cứ loại chương trình tiết kiệm cho vay, nhằm mục đích tác động đến một số dân cư nông thôn.
Tùy theo tính chất của tín dụng nông thôn, kế hoạch tín dụng có thể tập trung vào việc cung tín dụng, đảm bảo mua sắm trang thiết bị mới, nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi, đổi mới hoặc cải thiện cuộc sống của người dân nông thôn. Trước kia, tín dụng nông thôn thường được hiểu là sự cung cấp tín dụng ưu đãi. Hiện nay theo xu thế phát triển chung, khái niệm tín dụng nông thôn gắn liền với các chính sách tín dụng cho khu vực nông thôn nhằm mục tiêu giảm nghèo, hỗ trợ giải quyết việc làm và phát triển khu vực nông thôn. Ở nhiều nước, tín dụng nông thôn được mở rộng dưới sự bảo trợ của chương trình chính phủ.
Thông thường, các chương trình này tập trung vào việc tăng cường các nỗ lực của nông nghiệp trong nước cũng như một phương tiện nhằm củng cố nền kinh tế. Với tài trợ của chính phủ, nông dân và chủ trang trại thường xuyên có được nguồn vốn để duy trì sản xuất của họ, sau đó hoàn trả khoản vay khi vật nuôi và cây trồng được bán. Tín dụng được mở rộng như một phương tiện của việc giữ cân bằng giữa nhập khẩu và xuất khẩu, bằng cách đảm bảo một phần trăm nhất định của cây trồng và các sản phẩm nông nghiệp khác được sản xuất trong nước.