LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của luận án Hệ thống ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế bởi vị thế trung gian trong việc trung chuyển vốn. Chính vì thế, sự lành mạnh của các định chế tài chính này luôn là mối quan tâm hàng đầu của các cơ quan chức năng cũng nhƣ các bên liên quan khác. Ngân hàng Trung Ƣơng (NHTW) với hai nhiệm vụ chính là điều hành chính sách tiền tệ quốc gia và đảm bảo an toàn hệ thống tài chính cần có những biện pháp giám sát cẩn trọng về rủi ro nhằm cảnh báo sớm, đo lƣờng tác động cũng nhƣ có những khuyến nghị chính sách để xử lý nhằm giảm thiểu tối đa tác động tiêu cực, đảm bảo tính ổn định và bền vững cho nền kinh tế.
Sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008, một trong những vấn đề nổi lên đó là năng lực giám sát các ngân hàng và các tổ chức tài chính bởi sự phát triển lớn mạnh, đa dạng và phức tạp của các tổ chức này. Do đó, thách thức đối với các NHTW và cơ quan giám sát (CQGS) là cần phải đảm bảo sự tƣơng đồng giữa mục tiêu chính sách tiền tệ và mục tiêu giám sát an toàn, quan tâm hơn tới mục tiêu ổn định tài chính và an toàn vĩ mô, tập trung vào những rủi ro và các tổ chức có tầm quan trọng trong hệ thống (Bernanke, 2013). Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng BCBS (2006) trong Basel II đã tích hợp trong trụ cột 1 phƣơng pháp kiểm tra sức chịu đựng (KTSCĐ- Stress test) để ƣớc lƣợng các khoản nợ xấu, dự phòng cũng nhƣ mức độ đủ vốn của các ngân hàng trƣớc các sự kiện bất lợi, đồng thời KTSCĐ cũng là một nội dung của trụ cột 2 về giám sát ngân hàng. Chƣơng trình ổn định tài chính (Financial Sector Assessment Programs- FSAP) đƣợc thực hiện bởi IMF và WB tại các nƣớc phát triển và đang phát triển cũng sử dụng KTSCĐ là một phƣơng pháp để đánh giá khả năng chống đỡ của khu vực tài chính trƣớc các cú sốc và áp dụng cho các rủi ro khác nhau, trong đó có rủi ro tín dụng.
Dựa trên những quy định của Basel, phƣơng pháp KTSCĐ đƣợc NHTW nhiều nƣớc áp dụng nhằm hỗ trợ cho công tác giám sát, điển hình nhƣ NHTW tại Anh (Bank of England-BoE), NHTW Nhật Bản (Bank of Japan- BoJ), NHTW Tây Ban Nha (Bank of Spanin- BoS), Hà Lan (De Nederlandsche Bank-DNB) và NHTW Châu Âu (European Central Bank-ECB),… luan an 2 Trong các cuộc KTSCĐ đƣợc thực hiện bởi NHTW thì đều có cấu phần liên quan đến KTSCĐ rủi ro tín dụng. Borio và cộng sự, (2012) cũng cho rằng KTSCĐ vĩ mô cần tập trung trƣớc hết vào rủi ro tín dụng của hệ thống ngân hàng. Nhƣ vậy có thể khẳng định KTSCĐ ngày càng trở thành công cụ hữu hiệu và đắc lực để NHTW và CQGS đánh giá và giám sát các ngân hàng nói chung và rủi ro tín dụng của các ngân hàng nói riêng. Trải qua hơn 65 năm hình thành và phát triển, hệ thống ngân hàng Việt Nam liên tục tăng trƣởng cả về số lƣợng, quy mô, mạng lƣới và phƣơng thức vận hành.
Tính đến cuối năm 2019, hệ thống các NHTM Việt Nam có 7 NHTM Nhà nƣớc, 28 NHTM cổ phần, 2 ngân hàng liên doanh, 9 ngân hàng 100% vốn nƣớc ngoài và 49 chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài, tổng tài sản hệ thống NHTM chiếm tới 97,17% tổng tài sản hệ thống TCTD Việt Nam (NHNN, 2019). Trong đó rủi ro tín dụng vẫn là rủi ro trọng yếu nhất trong hoạt động kinh doanh ngân hàng của các ngân hàng Việt Nam. NHNN bắt đầu nghiên cứu và triển khai KTSCĐ từ năm 2013, tuy nhiên nội dung thực hiện vẫn còn ở những bƣớc đầu và còn nhiều nội dung cần hiệu chỉnh. Trong chiến lƣợc phát triển ngành Ngân hàng đến năm 2025 và định hƣớng đến năm 2030 đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định 986/QĐ- TTg ngày 08/8/2018, một trong những nội dung quan trọng là cần tăng cƣờng hiệu lực, hiệu quả của hệ thống thanh tra, giám sát ngân hàng, phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế.
Hoạt động giám sát ngân hàng tại Việt Nam, vì vậy cũng cần hƣớng tới việc đổi mới phƣơng pháp giám sát, triển khai các công cụ giám sát hiện đại, trong đó có KTSCĐ nhằm chuyển đổi từ giám sát tuân thủ sang giám sát rủi ro, kết hợp giám sát an toàn vi mô và giám sát an toàn vĩ mô. Bên cạnh đó, tổng quan nghiên cứu cho thấy các nghiên cứu về KTSCĐ nói chung và KTSCĐ rủi ro tín dụng nói riêng trên phƣơng diện cơ quan giám sát tại Việt Nam hiện vẫn còn nhiều khoảng trống. Xuất phát từ các vấn đề lý luận, thực tiễn và khoảng trống nghiên cứu nhƣ trên, việc nghiên cứu về “Kiểm tra sức chịu đựng rủi ro tín dụng trong giám sát ngân hàng tại Việt Nam” là cần thiết, nhất là trong công tác quản lý nhà nƣớc trong luan an 3 lĩnh vực ngân hàng, đặc biệt là công tác thanh tra, giám sát ngân hàng. Tổng quan tình hình nghiên cứu 2.
Tổng quan nghiên cứu quốc tế Phƣơng pháp KTSCĐ và KTSCĐ RRTD đã nhận đƣợc nhiều sự quan tâm của cả các nhà học thuật, các nhà nghiên cứu và những ngƣời làm thực tế trong. KTSCĐ trở thành công cụ hữu hiệu trong việc đánh giá sự ổn định, khả năng chống đỡ của hệ thống tài chính nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng trƣớc những cú sốc bất lợi của nền kinh tế. Tổng quan nghiên cứu đƣợc chia thành ba cấu phần: về kiểm tra sức chịu đựng, về kiểm tra sức chịu đựng rủi ro tín dụng và kiểm tra sức chịu đựng rủi ro tín dụng trong giám sát ngân hàng. Cụ thể: Về kiểm tra sức chịu đựng Thuật ngữ kiểm tra sức chịu đựng, tiếng anh là Stress test bắt nguồn từ ngành kỹ thuât (Demkas, 2015), trong đó KTSCĐ đƣợc hiểu là phân tích thử nghiệm một hệ thống hay cấu trúc trong hoàn cảnh nào thì vƣợt quá khả năng hoạt động bình thƣờng dẫn đến không hoạt động, từ đó xác nhận thông số kỹ thuật cần đƣợc đảm bảo của hệ thống hay cấu trúc đó.
Trong lĩnh vực kinh tế, tài chính-ngân hàng, một trong những ứng dụng đầu tiên của phƣơng thức này đƣợc thực hiện vào đầu những năm 1990 tại J.Morgan khi tích hợp vào phƣơng pháp ma trận rủi ro (RiskMetrics) để đo lƣờng rủi ro thị trƣờng (Zangari 1996). Berkowitz (1999) cung cấp cách tiếp cận lý thuyết KTSCĐ áp dụng cho lĩnh vực tài chính nhƣ là một thay thế cho phƣơng pháp tiếp cận VaR khi mà phƣơng pháp này không xét đến tác nhân làm thay đổi rủi ro hiện tại. Berkowitz (1999) đã gợi ý một cách ƣớc tính rủi ro danh mục tiềm ẩn hình của các ngân hàng bằng cách kết hợp các biến động lịch sử của các hành vi kinh tế vĩ mô vào mô hình Hilbers và cộng sự (2004) trong một nghiên cứu khác của IMF nhấn mạnh sự khác biệt trong việc đánh giá sức chịu đựng ở mức hệ thống (vĩ mô) và vi mô. Các tác giả cũng tổng quan lại phƣơng pháp đánh giá sức chịu đựng, từ xác định các tổn thất tới xây dựng các tình huống và phát biểu kết quả.
Trong khi đó Ủy ban Basel về giám luan an 4 sát ngân hàng (BCBS, 2009) đã ban hành bộ nguyên tắc về KTSCĐ, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng KTSCĐ trong việc xác định mức vốn cần thiết để hấp thụ các tổn thất khi các cú sốc xảy ra. Alfaro và Drehmann (2009) khi đánh giá mức hiệu quả của các phƣơng pháp KTSCĐ trong giai đoạn khủng hoảng. Các tác giả nhấn mạnh các giả định trong mô hình không tƣơng ứng với những gì đã thực sự xảy ra trong khủng hoảng. Hơn thế, Alfaro và Drehmann (2009) còn nhận thấy rằng đa phần các tình huống trong mô hình thƣờng dựa trên dữ liệu lịch sử về điều kiện vĩ mô khả quan hơn thực tế.
Trong khi đó Schuermann (2014) chỉ ra hạn chế của các quy định an toàn vốn trong cuộc khủng hoảng vừa qua và nhấn mạnh vai trò của KTSCĐ nhƣ là công cụ mới, hữu hiệu đánh giá rủi ro chính xác. Sau đó, phƣơng pháp KTSCĐ này đƣợc áp dụng rộng rãi tại các tổ chức tài chính, NHTW, CQGS. Cơ quan giám sát tài chính đã nhận ra lợi ích của việc kiểm tra sức chịu đựng của toàn bộ danh mục hoặc toàn bộ bảng cân đối từ các tình huống mô phỏng lƣợng hóa các giả thuyết về "cú sốc" cho các biến đƣợc lựa chọn và đánh giá tác động lên lợi nhuận, vốn, hay khả năng của các tổ chức quy định để tiếp tục đáp ứng các nghĩa vụ của họ, bao gồm cả các yêu cầu từ các cơ quan giám sát (Hirtle và cộng sự, 2014). Năm 2018, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng BCBS đã ban hành bộ nguyên tắc về KTSCĐ mới thay thế cho bộ nguyên tắc về KTSCĐ đƣợc ban hành năm 2009 (BCBS, 2018).
Adrian (2020) gần đây nhất đã phân tích các nội dung và thách thức khi thực hiện KTSCĐ trong các chƣơng trình FSAP tại các quốc gia thành viên của IMF. Phân chia theo rủi ro, KTSCĐ có thể đƣợc thực hiện theo cách thƣc tiếp cận từng phần hay từng rủi ro, trong đó xem xét mối quan hệ nhân quả giữa các cú sốc tới các biến tài chính riêng biệt. Rủi ro thị trƣờng là rủi ro đầu tiên ứng dụng KTSCĐ nhƣ trong nghiên cứu của (Zangari 1996). Sau đó mới đến các rủi ro khác nhƣ rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng nhƣ nghiên cứu của Pesaran và cộng sự (2004) và Alves (2004).
Phƣơng pháp thứ hai là phƣơng pháp tích hợp để đánh giá chung sự ổn định của cả hệ thống. Adrian và Shin (2008), Sorge (2004) và Jandacka và cộng sự (2005) đã sử dụng cách thức tiếp cận này vì nó có thể đƣa luan an 5 ra đƣợc phân phối thua lỗ trong bất kì tình huống cần kiểm tra nào. Tùy theo mục tiêu nghiên cứu sẽ áp dụng cho một loại rủi ro hay nhiều rủi ro. Về Kiểm tra sức chịu đựng rủi ro tín dụng KTSCĐ rủi ro tín dụng phổ biến nhất so với thực hiện KTSCĐ các rủi ro khác.
Thuật ngữ KTSCĐ rủi ro tín dụng ngân hàng thƣơng mại đƣợc hiểu là tập hợp các kỹ thuật và phƣơng pháp đƣợc sử dụng để đánh giá khả năng chịu đựng rủi ro tín dụng của ngân hàng thƣơng mại trƣớc những sự kiện hoặc kịch bản bất lợi. Khung thực hiện KTSCĐ rủi ro tín dụng NHTM bao gồm quy trình các bƣớc và các nội dung đƣợc thực hiện theo trình tự xác định Cihak (2007). Theo đó, KTSCĐ rủi ro tín dụng NHTM gồm 3 bƣớc chính để thực hiện.