Chương 1: Cơ sở lý luận về tín dụng và tăng cường hoạt động tín dụng của NHTM Chương 2: Thực trạng tăng cường hoạt động tín dụng tại NHNo&PTNT huyện Ea Kar Chương 3: Giải pháp tăng cường hoạt động tín dụng tại NHNo&PTNT chi nhánh huyện Ea Ka Luan van 26 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG VÀ TĂNG CƢỜNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Những vấn đề cơ bản về tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng là phạm trù kinh tế, ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại, phát triển của nền kinh tế hàng hóa. Tín dụng ra đời là một tất yếu khách quan của nền kinh tế xã hội.
Tín dụng là sự chuyển nhượng quyền sử dụng một lượng giá trị nhất định dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ trong một thời hạn nhất định từ người sở hữu sang người sử dụng và khi đến hạn người sử dụng phải hoàn trả lại cho người sở hữu với một lượng giá trị lớn hơn. Khoản giá trị dôi ra này được gọi là lợi tức tín dụng. Khái niệm tín dụng được thể hiện qua sơ đồ. Vốn 1 Người cho vay Người đi vay Vốn + lãi 2 Từ khái niệm trên, tín dụng thể hiện 3 mặt cơ bản: - Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sang người khác.
- Sự chuyển giao này mang tính chất tạm thời - Khi hoàn trả lại giá trị đã chuyển giao phải bao gồm cả vốn gốc lẫn lãi. Theo Luật các tổ chức tín dụng đã được bổ sung, sửa đổi năm 2010 quy định cụ thể về hoạt động tín dụng và cấp tín dụng của tổ chức tín dụng như sau: “Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng. Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách Luan van 27 hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác”. Đứng trên góc độ của nhà quản lý ngân hàng thì: Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với tất cả các cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp khác trong xã hội.
Đây không phải là quan hệ dịch chuyển vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếu mà là quan hệ dịch chuyển vốn gián tiếp thông qua một tổ chức trung gian, đó là ngân hàng. Tín dụng ngân hàng c ng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, đó là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn và là quan hệ bình đẳng cả hai bên cùng có lợi. Như vậy, tín dụng ngân hàng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng, dựa trên nguyên tắc hoàn trả kèm theo lợi tức, để thỏa mãn nhu cầu của cả hai bên, do đó tín dụng ngân hàng là một quan hệ bình đẳng, cả hai bên cùng có lợi và mang tính thỏa thuận lớn. Đặc điểm của tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng được thiết lập trên cơ sở lòng tin.
Lòng tin là cơ sở đầu tiên để có quan hệ tín dụng. Nó chỉ xảy ra khi người cho vay tin tưởng người đi vay sẽ hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn, sử dụng vốn vay có hiệu quả. Nó thể hiện ở uy tín, tài sản đảm bảo của khách hàng hay sự bảo lãnh của bên thứ ba. Điều này rất quan trọng vì nó tạo nên sự an toàn cho hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn có thời hạn. Thời hạn trong quan hệ tín dụng phụ thuộc vào sự thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng. Theo đó, ngân hàng căn cứ vào tính hợp lý giữa thời hạn đi vay và thời hạn Khi hoạt động sản xuất kinh doanh được mở rộng và phát triển, nhu cầu vốn tăng có thể dẫn đến nhu cầu về vốn tín dụng tăng, từ đó tín dụng ngân hàng phục vụ đắc lực cho sản xuất kinh doanh. C ng có thể khi sản xuất kinh doanh mở rộng và phát triển, nhu cầu vốn phát triển nhưng quy mô vốn tín dụng ngân hàng có thể không đổi do có thể có vốn từ các nguồn khác phát hành tín phiếu, trái phiếu, kêu gọi viện trợ.
Sản xuất kinh doanh không thay đổi nhưng nhu cầu tín dụng vẫn Luan van 28 tăng do hoạt động tín dụng còn đáp ứng nhiều nhu cầu khác ngoài sản xuất kinh doanh như tiêu dùng, trả nợ nước ngoài. Chính do các đặc điểm trên, tín dụng ngân hàng có thể đáp ứng được nhu cầu vốn tín dụng cả về khối lượng, thời hạn cho vay bằng các khoản vốn không phải chỉ của nó mà cả vốn huy động. Đồng thời nhờ có tín dụng mà ngân hàng được mở rộng được cả về phạm vi c ng như lĩnh vực hoạt động. Nhưng bên cạnh đó, tín dụng không phải không có những nhược điểm của nó, đó chính là tính rủi ro của hoạt động tín dụng tương đối cao do đó các ngân hàng sẽ dễ bị mất vốn, hiệu quả hoạt động c ng như chất lượng tín dụng sẽ kém đi.3 Nguyên tắc tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng được thực hiện trên ba nguyên tắc sau: * Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng: Đây là nguyên tắc quan trọng hàng đầu vì đại bộ phận vốn kinh doanh của Ngân hàng là nguồn vốn huy động từ nền kinh tế.
Nguyên tắc hoàn trả phản ánh đúng bản chất quan hệ tín dụng, tính chất của quan hệ tín dụng sẽ bị phá vỡ nếu nguyên tắc này không được thực hiện đầy đủ. Nếu trong quá trình hoạt động kinh doanh, các khoản tín dụng mà ngân hàng đã cung cấp không được hoàn trả đúng hạn nhất định sẽ ảnh hưởng tới khả năng thanh toán và thu nhập của Ngân hàng. * Vốn vay phải có giá trị tương đương làm đảm bảo: Trong nền kinh tế thị trường các hoạt động kinh tế diễn ra hết sức đa dạng và phức tạp, vì thế mọi dự đoán về rủi ro của ngân hàng chỉ mang tính tương đối. Trong môi trường kinh doanh như vậy, bảo đảm tín dụng được coi là một tiêu chuẩn xét duyệt cho vay nhằm bổ sung những mặt hạn chế của nhà quản trị tín dụng c ng như phòng ngừa những diễn biến không thuận lợi của môi trường kinh doanh.
Các giá trị tương đương làm bảo đảm có thể là: vật tư hàng hóa trong kho, tài sản cố định của doanh nghiệp, số dư trên tài khoản tiền gửi, hoá đơn chuẩn bị nhận hàng hoặc có thể là cam kết bảo lãnh của một cơ quan khác thậm chí có thể là chính uy tín của doanh nghiệp trên thị trường và trong mối quan hệ quá khứ với ngân hàng. Luan van 29 Giá trị đảm bảo là cơ sở cho khả năng trả nợ của khách hàng, cơ sở để hạn chế rủi ro tín dụng của ngân hàng và là điều kiện để thực hiện nguyên tắc thứ nhất trong các điều kiện khác nhau. * Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng: Tín dụng đúng mục đích không những là nguyên tắc mà còn là phương châm hoạt động của tín dụng. Việc thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng là cơ sở để tính toán các yếu tố hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh, đồng thời nó c ng là một trong những yếu tố đảm bảo khả năng thu nợ của Ngân hàng.
Để thực hiện nguyên tắc này, Ngân hàng yêu cầu khách hàng vay vốn phải sử dụng tiền vay đúng mục đích như đã cam kết trong hợp đồng, bởi vì mục đích đó đã được Ngân hàng thẩm định. Nếu phát hiện khách hàng vi phạm Ngân hàng được quyền thu hồi nợ trước hạn, trường hợp khách hàng không có tiền thì chuyển nợ quá hạn. Vai trò của tín dụng ngân hàng 1. Đối với nền kinh tế - TDNH thu hút tập trung mọi nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế dân cư để đầu tư cho quá trình mở rộng sản xuất, tăng trưởng kinh tế đáp ứng đầy đủ nhu cầu về vốn, thúc đẩy lưu thông hàng hóa, tăng tốc độ chu chuyển vốn cho xã hội, góp phần thúc đẩy tái sản xuất mở rộng, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển bền vững.
- Thông qua TDNH có thể kiểm soát được khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông thực hiện yêu cầu của lưu thông tiền tệ. - TDNH thúc đẩy các doanh nghiệp tăng cường chế độ hạch toán kinh doanh đồng thời giúp các doanh nghiệp khai thác có hiệu quả tiềm năng kinh tế trong hoạt động kinh doanh. - TDNH còn tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài. Là cầu nối cho việc giao lưu kinh tế và là phương tiện để thắt chặt mối quan hệ kinh tế với các nước trên thế giới.
Đối với Ngân hàng Luan van 30 Bản chất của TDNH là sự vận động của vốn tiền tệ thông qua các ngân hàng. Bằng các nghiệp vụ và hình thức huy động vốn khác nhau, ngân hàng huy động lượng tiền nhàn rỗi trong lưu thông, tạo thành nguồn vốn lớn. Ngân hàng sử dụng chính nguồn vốn này để đhọc viên cho vay với lãi suất lớn hơn với lãi suất tiền gửi. Phần chênh lệch sẽ tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng trong quá trình hoạt động.
Đối với khách hàng - TDNH đáp ứng kịp thời nhu cầu về số lượng và chất lượng vốn cho khách hàng. Với các ưu điểm như an toàn, thuận tiện, nhanh chóng, dễ tiếp cận và có khả năng đáp ứng được nhu cầu vốn lớn, tín dụng ngân hàng thỏa mãn nhu cầu đa dạng của khách hàng. - TDNH giúp nhà đầu tư nắm bắt được những cơ hội kinh doanh, doanh nghiệp có vốn để mở rộng sản xuất, các cá nhân có đủ khả năng tài chính để trang trại cho các khoản chi tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống… - TDNH ràng buộc trách nhiệm khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi trong thời hạn nhất định như thỏa thuận. Do đó, buộc khách hàng phải nỗ lực, tận dụng hết khả năng của mình để sử dụng vốn vay có hiệu quả, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất, đhọc viên lại lợi nhuận cho doanh nghiệp và đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.