CHƯƠNG 1 SV: Trương Văn Tân Lớp: CQ49/18.01 Luan van Luận văn tốt nghiệp 4 Học viện Tài chính MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VÀ TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH 1.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI.1 Khái niệm Ngân hàng Chính sách xã hội. Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) được thành lập theo quyết định số 131/2002/QĐ-TTg ngày 4/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ để thực hiện chính sách tín dụng đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng phục vụ người nghèo nhằm tách bạch tín dụng chính sách của Chính phủ ra khỏi hệ thống Ngân hàng thương mại Nhà nước, đảm bảo việc cho vay chính sách được tập trung và hiệu quả hơn đảm bảo cho việc tập trung nguồn lực tín dụng chính sách cho mục tiêu xóa đói giảm nghèo nhanh và tạo điều kiện để các ngân hàng thương mại tập trung kinh doanh theo cơ chế thị trường. NHCSXH là một tổ chức tài chính Nhà nước, sử dụng nguồn lực của Nhà nước để điều tiết, hỗ trợ tài chính cho người nghèo, vùng nghèo và các đối tượng chính sách, thực hiện mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo, ổn định xã hội. Bộ máy tổ chức và quản lý phải có sự tham gia của các cơ quan quản lý nhà nước để hoạch định chính sách nguồn vốn, chính sách đầu tư và hướng dẫn, giám sát thực hiện, đồng thời, phải có sự tham gia của các tổ chức chính trị xã hội và cộng đồng dân cư để đảm bảo các chính sách, chế độ an sinh xã hội của Nhà nước được thực hiện một cách công khai, dân chủ và công bằng.2 Hoàn cảnh ra đời.
Ngày 31/8/1995, Thủ tuớng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 525/TTg thành lập Ngân hàng Phục vụ Người nghèo với mục tiêu xóa đói giảm nghèo, không vì mục đích lợi nhuận. Ngân hàng Phục vụ Người nghèo là một tổ chức đặc thù về mô hình tổ chức quản lý theo phương thức các cơ quan quản lý Nhà nước tham gia ban hành chính sách, còn việc điều hành tác nghiệp ủy thác cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, về cơ chế hoạt động tạo khả năng huy động vốn thông qua hoạt động của Ngân hàng có sự bảo trợ của Chính phủ. SV: Trương Văn Tân Lớp: CQ49/18.01 Luan van Luận văn tốt nghiệp 5 Học viện Tài chính Qua 7 năm hoạt động của Ngân hàng Phục vụ Người nghèo, các tổ chức tài chính quốc tế nhận xét rằng đây là chương trình cho vay ưu đãi của Chính phủ, chưa phải là hoạt động của một tổ chức tín dụng, chưa có cơ sở cho sự phát triển bền vững vì chưa nhận được vốn vay từ các tổ chức tài chính quốc tế. Nhằm cụ thể hoá Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Luật các Tổ chức tín dụng và Nghị quyết kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá X về chính sách tín dụng đối với người nghèo, các đối tượng chính sách khác.
Tách việc cho vay chính sách ra khỏi hoạt động tín dụng thông thường của các Ngân hàng thương mại Nhà nước, cơ cấu lại hệ thống ngân hàng là tất yếu khách quan. Ngày 04/10/2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 78/2002/NĐ-CP về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác và Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg thành lập NHCSXH, tiếp đó là Quyết định số 16/2003/QĐ-TTg ban hành Điều lệ về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội. Theo chủ trương Nghị quyết đó, NHCSXH được sử dụng nguồn tài chính do Nhà nước huy động cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay ưu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo, cải thiện đời sống, ổn định xã hội, đồng thời hoàn thiện mô hình tổ chức, bộ máy. Ngày 11 tháng 3 năm 2003, NHCSXH chính thức đi vào hoạt động.3 Đặc điểm của Ngân hàng Chính sách xã hội.
- NHCSXH là đơn vị hạch toán tập trung toàn hệ thống, tự chủ về tài chính, tự chịu trách nhiệm về hoạt động tín dụng của mình trước pháp luật; thực hiện bảo tồn và phát triển vốn; bù đắp chi phí và rủi ro hoạt động tín dụng. NHCSXH không tham gia bảo hiểm tiền gửi, có tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0%, được miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước. - Vốn điều lệ ban đầu là 5.000 đồng (Năm nghìn tỷ đồng) và được cấp bổ sung phù hợp với yêu cầu hoạt động từng thời kỳ. Đến ngày 31/12/2011, vốn điều lệ của NHCSXH là 10.
- NHCSXH hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà vì an sinh xã hội, SV: Trương Văn Tân Lớp: CQ49/18.01 Luan van Luận văn tốt nghiệp 6 Học viện Tài chính thực hiện cho vay với lãi suất và các điều kiện ưu đãi, mục tiêu chủ yếu là xoá đói giảm nghèo. Mức cho vay và lãi suất cho vay của NHCSXH theo Quyết định của Chính phủ từng thời kỳ. Hiện nay, lãi suất của các chương trình cho vay của NHCSXH từ 0%/tháng đến 0,9%/tháng. - Đối tượng vay vốn là những hộ gia đình nghèo, các đối tượng chính sách gặp khó khăn thiếu thốn trong cuộc sống không đủ điều kiện để vay vốn từ các Ngân hàng thương mại, các đối tượng sinh sống ở những xã thuộc vùng khó khăn (theo quyết định số 30/2007/QĐ- TTg ngày 5/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ).
- Phương thức cho vay ủy thác qua các tổ chức chính trị - xã hội. - Có Hội đồng quản trị và Ban đại diện HĐQT các cấp.4 Các chương trình đang thực hiện của NHCSXH Việt Nam Theo Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, NHCSXH thực hiện việc cho vay đến 6 danh mục đối tượng chính sách như sau: 1. Học sinh, sinh viên (HSSV) có hoàn cảnh khó khăn; 3. Các đối tượng cần vay vốn để giải quyết việc làm (GQVL); 4.
Các đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài; 5. Các tổ chức kinh tế và hộ sản xuất kinh doanh (SXKD) tại các xã đặc biệt khó khăn thuộc chương trình 135; 6. Các đối tượng khác khi có Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Sau khi thành lập (đầu năm 2003), NHCSXH tiếp tục triển khai chương trình cho vay hộ nghèo, nhận bàn giao chương trình cho vay HSSV từ Ngân hàng Công thương Việt Nam và nhận bàn giao chương trình cho vay vốn GQVL từ Kho bạc Nhà nước.
Hiện nay, NHCSXH đang thực hiện cho vay 14 chương trình tín dụng và 4 dự án của các tổ chức tài chính quốc tế như sau: SV: Trương Văn Tân Lớp: CQ49/18.01 Luan van Luận văn tốt nghiệp 7 Học viện Tài chính 1. Cho vay hộ nghèo; 2. Cho vay HSSV có hoàn cảnh khó khăn; 3. Cho vay giải quyết việc làm; 4.
Cho vay các đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài; 5. Cho vay hộ SXKDVKK; 6. Cho vay hộ đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) đặc biệt khó khăn; 7. Cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn (NS&VSMTNT); 8.
Cho vay hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định 167/2008/QĐ-TTg; 9. Cho vay thương nhân hoạt động thương mại tại vùng khó khăn; 10. Cho vay hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo Đồng bằng sông Cửu Long theo Quyết định 74/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; 11. Cho vay vốn đối với hộ đồng bào thiểu số nghèo theo Quyết định 1592/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; 12.
Cho vay hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động (XKLĐ) góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009 - 2020; 13. Cho vay chương trình nhà ở vùng thường xuyên ngập lũ Đồng bằng sông Cửu Long; 14. Cho vay đối với các cơ sở SXKD, dịch vụ và doanh nghiệp sử dụng người lao động là người sau cai nghiện ma túy; 15. Cho vay dự án doanh nghiệp vừa và nhỏ; 16.
Cho vay dự án phát triển ngành lâm nghiệp; 17. Cho vay dự án IFAD và dự án RIDP tại Tuyên Quang; 18. Cho vay dự án Rừng ngập mặn miền Nam Việt Nam.2 TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG VÀ TÍN DỤNG CHINH SÁCH.1 Tổng quan về tín dụng.1 Khái niệm tín dụng. Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai SV: Trương Văn Tân Lớp: CQ49/18.01 Luan van Luận văn tốt nghiệp 8 Học viện Tài chính chủ thể, trong đó một bên chuển giao một lượng giá trị sang cho bên kia được sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận được phải cam kết hoàn trả theo thời hạn đã thoả thuận.2 Phân loại tín dụng.
Trên thực tế, có rất nhiều cách phân loại tín dụng dựa vào các căn cứ khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu. Tuy nhiên, người ta thường phân loại theo một số thiêu thức sau: a). Theo thời sử dụng vốn vay, tín dụng được phân thành 3 loại sau: - Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn dưới 1 năm, thường được sử dụng vào nghiệp vụ thanh toán,cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các doanh nghiệp hay cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng cá nhân. - Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm, được dùng để cho vay vốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh.
- Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được dùng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn. Thường thì tín dụng trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố định và một phần vốn tối thiểu cho hoạt động sản xuất. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, tín dụng chia thành 2 loại: - Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá: Là loại tín dụng được cung cấp cho các doanh nghiệp để họ tiến hành sản xuất kinh doanh. - Tín dụng tiêu dùng: Là loại tín dụng được cấp phát cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.
Loại tín dụng này thường được dùng để mua sắm nhà cửa, xe cộ, các thiết bị gia đình. Tín dụng tiêu dùng ngà càng có xu hướng tăng lên. Căn cứ vào tính chất đảm bảo của các khoản cho vay, tín dụng được chia thành các loại sau: - Tín dụng có đảm bảo: Là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phát ra đều có tài sản tương đương thế chấp, có các hình thức như: cầm cố, thế chấp, chiết khấu và bảo lãnh. SV: Trương Văn Tân Lớp: CQ49/18.