Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỂ L í LUẬN VỂ TÍN DỤNG NHÀ NƯỚC CỦA. QUY HO TRỢ PHÁT TRIỂN t r o n g n e n k i n h t ê t h ị t r ư ờ n g 1. TÍN DỤNG NHÀ NƯỚC 1. Sự cần thiết khách quan của tín dụng nhà nước Tín dụng là một phạm trù lịch sử, xuất hiện từ cuối thời kỳ xã hội cộng sản nguyên thuỷ, được duy trì và phát triển ả xã hội chiếm hữu nô lệ và xã hội phong kiến.
Song nó chỉ được phát triển mạnh mẽ, trở thành một yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy xã hội loài người đi tới văn minh, thịnh vượn* trong nền kinh tê thị trường dựa trên nền sản xuất lớn hiện đại. Vậy tín đụn* là gì? Danh từ tín dụng xuất phát từ gốc Latinh: Creditum, có nghĩa là một sự tín tưởng tín nhiệm lẫn nhau, hay nói cách khác đó là lòng tin. Theo n*ôn ngữ dân gian Việt Nam, tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau trên cơ sở có hoàn trả cả gốc và lãi. Hiện nay, các hình thức tín dụng ngày càng phát triển đa dạng, phon* phú và hiện đại.
Có nhiều tiêu thức để phân loại tín dụng. Nếu căn cứ vào chủ thể tham gia vào quan hệ vay mượn, người ta phân biệt các loại tín dụn* thành tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước, tín dụng tiêu dùng. Trong đó, tín dụng nhà nước là một công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước. Trong nền kinh tê thị trường, Nhà nước thông qua hệ thống luật pháp định hướng phát triển kinh tế-xã hội, các chính sách quản lý,., để thực hiện các chức năng vốn có của mình.
Đó là, xác định các mục tiêu kinh tế xã hội và lựa chọn các biện pháp chủ yếu để đạt tới mục tiêu đó; phối hợp để đảm 5 bảo cân đối những quan hệ kinh tế quan trọng nhất, xử lý và dung hoà nhữnơ mâu thuẫn trong quá trình phát triển; tập trung kích thích những lĩnh vực thế mạnh, tạo bước đột phá trong quá trình phát triển; kiểm soát'và điều tiết để đảm bảo và thực hiện các chính sách xã hội;. Trong thực tế, Nhà nước có thể can thiệp trực tiếp và gián tiếp vào nền kinh tế, một mặt, cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cộng, an ninh, ban hành hệ thống pháp luật kinh tế giáo dục,., mặt khác sử dụng với mức độ và cách thức thích hợp các cônơ cụ tài chính, tiền tệ, thuế, tín dụng,., trong đó có tín dụng nhà nước. Trong điều kiện sử dụng các công cụ tài chính, thuế,. mà vẫn khôncr đáp ứng yêu cầu ở một số lĩnh vực thì tất yếu Nhà nước với vai trò quản lý vĩ mô cần sử dụng công cụ tín dụng nhà nước để điều hành kinh tế xã hội.
Khi ngân sách còn bội chi, đặc biệt ở những nước đang phát triển, Nhà nước cần thiêt phải đi vay trong nước cũng như ngoài nước để chi dùng và duy trì hoạt động thường ngày của Nhà nước. Xét trên góc độ xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cho xã hội, Nhà nước phải đi vay để góp phần tạo nguồn lực tài chính cho việc thực hiện công việc này.Trong điều kiện hợp tác quốc tế n^ày một gia tăng, Nhà nước không thể từ chối nghĩa vụ cho vay đối với nước ngoài. Bên cạnh đó, bản thân sự phát triển của tín dụng nhà nước tạo điều kiện phát triển tín dụng ngân hàng vì các giấy tờ có giá của tín dụng nhà nước là một loại đối tượng quan trọng để chiết khấu, cầm cố, tái chiết khấu tái cầm cố tại ngân hàng. Như vậy, tín dụng nhà nước ra đời xuất phát từ nhu cầu tất yếu của việc Nhà nước thực hiện chức năng quản lý vĩ mô nền kinh tế.
Vậy, tín dụng nhà nước là gì? Tín dụng nhà nước là quan hệ tín dụng giữa một bên là Nhà nước với một bên là dân cư, các tổ chức kinh tế-xã hội trong và ngoài nước, trong đó Nhà nước là người tổ chức thực hiện để phục vụ cho việc thực thi các chức năng của Nhà nước. Trước đây, tín dụng nhà nước trước hết và chủ yếu là việc nhà nước đi 6 vay của xã hội bằng cách phát hành trái phiếu, kí kết hiệp định vay nợ và viện trợ,. Hiện nay, Nhà nước đã sử dụng tín dụng để tiến hành cho vay ưu đãi ở trong nước và ngoài nước. Đạc đ i ê m cua tín dung nhà nước’ Trong nền kinh tê thị trường, hoạt động tín dụng rất đa dạng và phonơ phú với nhiều loại hình khác nhau như tín dụng thương mại, tín dụng tiêu dùng,.Tuy cùng tuân theo nguyên tắc hoạt động của tín dụng là vay-trả nhưng tín dụng nhà nước với đặc điểm riêng luôn có sự khác biệt nhất định với các loại hình tín dụng khác, cụ thể là: - Tín dụng nhà nước có chức năng song trùng của tài chính và ngân hàng.
Về phương diện tài chính, nó có chức năng “phân phối” và phân bổ nguôn lực tài chính cho sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, về phươn* diện ngân hàng, nó có chức năng “tín dụng”, có vay, có trả, có sinh lời biểu hiện qua lãi suất. - Khác với các loại hình tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng tiêu dùng, một chủ thể tham gia trong quan hệ tín dụng của Nhà nước luôn là Nhà nước. Còn trong quan hệ vay mượn của những hình thức tín dụno- khác, không nhất thiết phải có một chủ thể là Nhà nước. - Đứng trên góc độ sự đảm bảo hoàn trả nợ, các loại hình tín d ụ n ơ khác bao gổm hai hình thức: tín dụng tín chấp và tín dụng thế chấp, nhưng thông thường là tín dụng thế chấp.
Trong khi đó, tín dụng nhà nước là loại hình tín dụng tín chấp cả về phía Nhà nước đi vay cũng như về phía Nhà nước cho vay. Nhà nước dùng uy tín của mình để bảo đảm việc trả nợ đúng hạn số tiền đa vay. - Tín dụng nhà nước là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tê. Việc huy động vốn thông qua tín dụng nhà nước không mang tính thường xuyên như tín dụng ngân hàng.
Nó chỉ xuất hiện khi có yêu cầu xử lý vấn đề bội chi ngân sách nhà nước và mở rộng đầu tư hoặc để phục vụ mục tiêu, 7 chiến lược cùa quốc gia. Chẳng hạn như nhà nước phát hành các trái phiếu công trình, vay ODA để xây dựng cơ sờ hạ tầng,. Do đó, nếu đứng trên góc độ thòi hạn vay mượn, tín dụng nhà nước cũng bao góm tín dụng ngfa hạn, tú, dụng trung và dài hạn. Song, tín dụng trụng hạn, tín dụng dài hạn là chủ yếu.
- Hoạt động của các loại tín dụng khác nhằm tối đa hoá lợi nhuận và coi họng hiệu quả trực tiếp. Mục tiêu của tín dụng nhà nước là nhằm bù đáp thiêu hụt ngân sách Nhà nước, thực hiện các công trình xây dựng có tính chiến lược như cơ sờ hạ tầng kinh tế xã hội cùa quốc gia, nó không thực hiện cho hoạt động tiêu dùng, cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh thường xuyên như tín dụng ngân hàng và các loại tín dụng khác. Việc thực hiện tín dụng nhà nước trước hết chú ý đến lợi ích toàn cục, lợi ích kinh tế và r i hội lâu dài. Nghĩa là, việc xem xét hiệu quà tín dụng Nhà nước được nhìn nhận ở tầm vĩ mô.
-Tín dụng nhà nướclà một phạm trù kinh tế có tính lịch sử. Nó ra đời tồn tại và phát triển gắn liền với sự ra đời, tổn tại và phát triển của Nhà nước. Tín dụng nhà nước là công cụ dược Nhà nước sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Hoạt động tín dụng nhà nước trong nền kinh tế thị trườno 1.
H o ạ t đ ô n g ta o lâ p vốn Các tổ chức tài chính, tín dụng thực hiện tín dụng nhà nước hoạt động trên cơ sở hai nguồn vốn: vốn ngân sách nhà nước cấp ban đáu khi mới thành lập, Câp bổ sung trong quá trình hoạt động và vốn huy động từ bên ngoài. Nghĩa là, để có thể mở rộng hoạt động, bên cạnh vốn ngân sách nhà nước câp, các tổ chức này phải huy động vốn từ các nguồn trong, ngoài nước. __ ' Huy động vốn nhàn rỗi 'rong xã hội: Huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội là một trong những hoạt đông cơ bản cùa tín dụng nhà nước. Nó tạo ra nguồn Vốn quan trọng cho Nhà nước sử dụng để thực hiện chức nàng của mình.
Việc huy động vố n nhàn rỗi trong xã hội thường thông qua hai phương 8 thức: huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư và vay của các tổ chức tài chính tín dụng. Để bù đắp thâm hụt ngân sách hoặc thực hiện các chương trình dự án đầu tư, Nhà nước thường huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư, trong xã hội thông qua việc phát hành những chứng từ có giá như các loại trái phiếu tín phiêu,. Chẳng hạn như: tín phiếu kho bạc vói thời gian dưới một năm dùn<T để bù đắp tạm thời thâm hụt ngân sách nhà nước trong năm tài chính và là công cụ của thị trường mở. Trái phiếu kho bạc với thời hạn 1 năm trở lên nhằm mục đích huy động vốn để bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước đáp ứng nhu cầu chi đầu tư phát triển theo kế hoạch ngân sách nhà nước được duyệt.
Trái phiếu đầu tư là loại trái phiếu có thòi hạn 1 năm trở lên nhằm huy động vốn cho từng công trình cụ thể và cho Quỹ hỗ trợ phát triển thực hiện tín dụng đầu tư phát triển theo kế hoạch đầu tư của nhà nước. Tron- những hình thức huy động này, Nhà nước chủ động và trực tiếp đứnơ ra thu gom vốn trong xã hội nhằm bổ sung nguồn vốn để thực hiện các chính sách phát triển kinh tế của mình. Bên cạnh đó, Nhà nước có thể huy động vốn bằng cách vay của các tổ chức tài chính, tín dụng như Bảo hiểm xã hội, ngân hàng thương mại, Quỹ tiêt kiệm bưu điện,. trong phương thức này, Nhà nước huy động nguồn vốn nhàn rỗi của các tổ chức tài chính, tín dụng đó để đưa vào sản xuất, phục vụ việc thực hiện chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế của mình.
-Vay vốn của nước ngoài: Trong điều kiện hợp tác quốc tế ngày càn* phát triển, nguồn lực trong nước không đủ cho phát triển kinh tế, đặc biệt là ở những nước đang phát triển và kém phát triển, việc vay vốn của các tổ chức tài chính, tín dụng, các quốc gia khác là nhu cầu tất yếu.