Tổng quan luận án

Công trình "Pháp luật về cá nhân kinh doanh" của tác giả Trần Thị Lệ Thu, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Nguyễn Thanh Bình tại Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh (chuyên ngành Luật Kinh tế, mã số: 62380107, năm 2023). Luận án giải quyết vấn đề bất cập trong hệ thống pháp luật điều chỉnh các chủ thể kinh doanh là cá nhân tại Việt Nam.

Xét về mặt lý luận, cá nhân kinh doanh là hình thức kinh doanh xuất hiện đầu tiên, đơn giản và lâu đời nhất. Tại Việt Nam, mô hình cá nhân kinh doanh đang tồn tại dưới ba hình thức cơ bản: doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh do một cá nhân đăng ký thành lập, và cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh. Hoạt động của các chủ thể này chịu sự điều chỉnh phân tán bởi Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư và các luật về thuế, dẫn đến mâu thuẫn trong áp dụng pháp luật và sự bất bình đẳng về quyền, nghĩa vụ.

Về mặt thực tiễn, số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2021 cho thấy có 857.551 doanh nghiệp đang hoạt động, trong khi số lượng hộ kinh doanh cá thể lên tới hơn 5 triệu hộ. Mặc dù Nhà nước chủ trương thúc đẩy hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp, cơ chế quản lý và nghĩa vụ thuế hiện hành tạo ra chi phí giao dịch thấp hơn đáng kể cho hộ kinh doanh so với doanh nghiệp tư nhân, làm giảm động lực chuyển đổi mô hình. Về mặt học thuật, tại Việt Nam chưa có công trình chuyên khảo hoặc luận án tiến sĩ luật học nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về mô hình cá nhân kinh doanh để định hình một khung pháp lý thống nhất.

Mục đích nghiên cứu của luận án là chứng minh sự cần thiết phải thống nhất và xây dựng chế định pháp luật riêng về cá nhân kinh doanh tại Việt Nam. Để đạt được mục đích này, luận án thực hiện ba nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Làm rõ bản chất pháp lý của cá nhân kinh doanh trong mối tương quan với hộ kinh doanh và doanh nghiệp tư nhân qua các thời kỳ lịch sử, đồng thời so sánh với pháp luật của Pháp, Mỹ và Trung Quốc.
  2. Phân tích, đánh giá các quy định pháp luật Việt Nam về đăng ký hoạt động và cơ chế đại diện nhằm khẳng định hộ kinh doanh do một cá nhân thành lập và doanh nghiệp tư nhân thực chất là cá nhân kinh doanh, từ đó lập luận cho việc xây dựng khung pháp lý chung.
  3. Đánh giá các quy định về nghĩa vụ thuế đang áp dụng đối với hộ kinh doanh và doanh nghiệp tư nhân, đưa ra các khuyến nghị xây dựng khung pháp lý thống nhất về nghĩa vụ thuế áp dụng chung cho cá nhân kinh doanh.

Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm các quy định pháp luật về bản chất pháp lý, đăng ký hoạt động, vấn đề đại diện và nghĩa vụ thuế của hộ kinh doanh do một cá nhân đăng ký và doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam, kết hợp với các quy định pháp luật tương ứng của Pháp, Mỹ và Trung Quốc.

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Về nội dung: Tập trung vào hai loại hình chủ thể kinh doanh có đăng ký và không có tư cách pháp nhân gồm doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh do một cá nhân đăng ký hoạt động. Bốn nội dung trọng tâm được mổ xẻ là bản chất pháp lý, đăng ký kinh doanh, cơ chế đại diện và nghĩa vụ thuế.
  • Về không gian: Nghiên cứu pháp luật Việt Nam và mở rộng so sánh với hệ thống pháp luật Pháp (đại diện hệ thống Civil Law), Mỹ (đại diện hệ thống Common Law) và Trung Quốc (quốc gia có thể chế và mô hình hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân tương đồng).
  • Về thời gian: Tập trung khảo cứu các quy định pháp luật và thực tiễn từ mốc Đổi mới năm 1986 đến năm 2023.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong luận án được phân tích theo 3 nhóm nội dung chính:

Nhóm nghiên cứu về quyền tự do kinh doanh:

  • Sách chuyên khảo Quyền tự do kinh doanh của Nguyễn Thị Thu Trang, Dương Anh Sơn và Châu Thị Khánh Vân (2020) tiếp cận quyền tự do kinh doanh dưới góc độ quyền kinh tế của con người qua 4 nội dung: tự do gia nhập thị trường, tự do quyết định hoạt động kinh doanh, tự do hợp đồng và tự do giải quyết tranh chấp. Luận án kế thừa 2 nội dung đầu để giải thích sự lựa chọn mô hình của cá nhân kinh doanh.
  • Sách chuyên khảo Tự do kinh doanh và vấn đề bảo đảm quyền con người tại Việt Nam của Mai Hồng Quỳ (2012) phân tích quyền tự do kinh doanh qua các bản Hiến pháp và văn kiện quốc tế.
  • Luận án tiến sĩ Xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh ở nước ta của Bùi Ngọc Cường (2001) làm rõ các yếu tố cấu thành quyền tự do kinh doanh dựa trên nền tảng Luật Công ty 1990 và Bộ luật Dân sự 1995.

Nhóm nghiên cứu về bản chất pháp lý và cơ chế đại diện của cá nhân kinh doanh:

  • Các công trình nước ngoài: Lucy Jones (Introduction to Business Law, 2019) phân tích chế định đại diện và mô hình doanh nghiệp tư nhân tại Anh và Pháp; Kenneth W. Clarkson và Roger LeRoy Miller (Business Law: Text and Cases, 2019), Roger LeRoy Miller (Business Law Today, 2021) phân tích mô hình Sole Proprietorship tại Mỹ; Alexandra Andhov (Start-up Law, 2020) nghiên cứu khung pháp lý doanh nghiệp khởi nghiệp tại Canada, Đan Mạch, Thụy Sĩ, Mỹ; Francis Lemeunier (Nguyên lý và thực hành Luật Thương mại, Luật Kinh doanh, bản dịch 1993) phân tích quy chế thương nhân thể nhân tại Pháp; Alan B. Morrison (Những vấn đề cơ bản của Luật pháp Mỹ, 2007) và Nguyễn Văn Ân (Hành trình kinh doanh vào Hoa Kỳ, 2008) phân tích đặc tính không có tư cách pháp lý độc lập của doanh nghiệp đơn doanh; Roger E. Ringleb và Frances L. Edwards (The Legal Environment of Business, 2012) chỉ ra hơn 30 triệu doanh nghiệp tư nhân ở Mỹ không bắt buộc đăng ký nếu dùng tên thật; Michael J. Munkert, Stephan Stubner, Torsten Wulf (Founding a Company, 2010) phân tích mô hình L'Entreprise Individuelle (EI) tại Pháp; Yuanshi Bu (Chinese Civil Law, 2013) và Jianfu Chen (Chinese Law: Context and Transformation, 2008) phân tích hộ kinh doanh cá thể và doanh nghiệp tư nhân theo Luật Dân sự và Luật Doanh nghiệp tư nhân Trung Quốc.
  • Các công trình trong nước: Lê Tài Triển, Nguyễn Vạng Thọ, Nguyễn Tân (Luật Thương mại Việt Nam dẫn giải, 1972) nêu khái niệm "thương gia thể nhân"; Trương Thanh Đức (Kinh doanh sành luật, 2021) phân tích chủ thể không có tư cách pháp nhân theo Luật Doanh nghiệp 2020; Nguyễn Thị Thu Thủy (Luận án tiến sĩ, 2016) nghiên cứu pháp luật đăng ký kinh doanh; Nguyễn Trí Tuệ (Luận án tiến sĩ, 2003) nghiên cứu địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân theo Luật Doanh nghiệp 1999.

Nhóm nghiên cứu về nghĩa vụ thuế của cá nhân kinh doanh:

  • Các tác phẩm của Paul Kendall (2018), Alexandra Andhov (2020), Francis Lemeunier (1993), Nguyễn Văn Ân (2008) chỉ ra nguyên tắc đánh thuế một lần vào thu nhập cá nhân của chủ sở hữu tại Mỹ, cơ chế quản lý hóa đơn chứng từ nghiêm ngặt tại Pháp, và chế độ thuế đối với mô hình EI. Trong nước, các nghiên cứu đa phần chỉ dừng lại ở việc tiếp cận Luật Thuế thu nhập cá nhân nói chung mà chưa phân tích chuyên sâu về quản lý thuế đối với cá nhân kinh doanh.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Các công trình trước đây chỉ phân tích riêng lẻ từng đối tượng (doanh nghiệp tư nhân hoặc hộ kinh doanh), tiếp cận trên các văn bản pháp luật cũ đã hết hiệu lực, hoặc tách rời góc độ quản lý kinh doanh với pháp luật thuế. Luận án lấp đầy khoảng trống này bằng việc hệ thống hóa, kết nối các quy định pháp luật hiện hành và nghiên cứu so sánh quốc tế để đề xuất mô hình pháp lý thống nhất thay thế cho hộ kinh doanh một chủ và doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

Luận án vận dụng ba lý thuyết khoa học nền tảng xuyên suốt các nội dung nghiên cứu:

  1. Lý thuyết về quyền tự do kinh doanh: Khởi nguồn từ tư tưởng của John Locke (Khảo luận thứ hai về chính quyền), Jean Jacques Rousseau (Khế ước xã hội), Montesquieu (Tinh thần pháp luật), Friedrich Hayek và Ayn Rand, kết hợp quan điểm hiện đại của Chafuen & Guzmán (2000), Terry Miller & Anthony B. Kim (2010), Bùi Xuân Hải (2011), Mai Hồng Quỳ (2012). Lý thuyết khẳng định tự do kinh doanh là quyền tự nhiên của con người, bao gồm quyền ưu tiên tự do cá nhân, quyền tự nguyện tham gia thị trường, tự do cạnh tranh và quyền được pháp luật bảo vệ tài sản, tính mạng trước sự can thiệp bất hợp lý của nhà nước. Luận án sử dụng lý thuyết này tại Chương 2 để giải thích bản chất sự hình thành các mô hình cá nhân kinh doanh tại Việt Nam.
  2. Lý thuyết đại diện (Agency Theory): Được phát triển bởi Michael C. Jensen và William H. Meckling (1976), nghiên cứu mối quan hệ hợp đồng giữa bên ủy quyền (principals) và bên được ủy quyền (agents). Mâu thuẫn lợi ích và sự bất cân xứng thông tin giữa hai bên làm phát sinh chi phí đại diện (bao gồm chi phí giám sát, chi phí ràng buộc và chi phí cơ hội). Chi phí này triệt tiêu về 0 khi chủ sở hữu trực tiếp quản lý và nắm toàn bộ vốn. Luận án vận dụng lý thuyết này chủ yếu tại Chương 3 để giải thích cấu trúc tổ chức tinh gọn của cá nhân kinh doanh và phân tích những bất cập trong chế định đại diện của hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân theo pháp luật Việt Nam.
  3. Lý thuyết chi phí giao dịch (Transaction Cost Economics): Bắt nguồn từ các công trình của Ronald H. Coase (The Nature of the Firm, 1937; The Problem of Social Cost, 1960) và phát triển bởi Oliver Williamson. Lý thuyết chỉ ra các loại chi phí phát sinh khi tham gia thị trường: chi phí tìm kiếm thông tin, chi phí thương thảo/ra quyết định, chi phí kiểm tra/khắc phục hậu quả. Luận án sử dụng lý thuyết này ở Chương 2, Chương 3 và Chương 4 để chứng minh sự chênh lệch về chi phí tuân thủ thủ tục đăng ký và nghĩa vụ thuế đang dẫn dắt sự lựa chọn mô hình hộ kinh doanh thay vì doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam.

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

Đề tài giải quyết câu hỏi trung tâm: "Tại sao cần phải thống nhất các quy định pháp luật về Cá nhân kinh doanh?" thông qua 3 câu hỏi cụ thể:

  • Câu hỏi 1: Cá nhân kinh doanh là ai?
    • Giả thuyết: Cá nhân kinh doanh ở Việt Nam tương đồng với thông lệ quốc tế là hình thức kinh doanh một chủ, nhưng đang tồn tại dưới nhiều hình thức có bản chất pháp lý phân tán như hộ kinh doanh do một cá nhân thành lập và doanh nghiệp tư nhân.
  • Câu hỏi 2: Cá nhân kinh doanh được đăng ký hoạt động với cơ chế đại diện như thế nào?
    • Giả thuyết: Thủ tục đăng ký kinh doanh có điểm tương đồng với quốc tế, nhưng chế định đại diện của doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh bộc lộ mâu thuẫn giữa Bộ luật Dân sự và Luật Doanh nghiệp.
  • Câu hỏi 3: Bất cập trong việc xác định nghĩa vụ thuế đối với các hình thức cá nhân kinh doanh hiện nay là gì?
    • Giả thuyết: Pháp luật thuế Việt Nam áp dụng các loại thuế không tương thích với thông lệ quốc tế, đồng thời tạo ra sự bất bình đẳng lớn về nghĩa vụ tài chính giữa hộ kinh doanh và doanh nghiệp tư nhân.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Luận án là công trình nghiên cứu định tính thuần túy trong khoa học pháp lý, sử dụng các phương pháp:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Áp dụng xuyên suốt các chương để đánh giá văn bản quy phạm pháp luật, học thuyết pháp lý và thực tiễn thi hành.
  • Phương pháp so sánh luật: Áp dụng tại Chương 2, Chương 3 và Chương 4 để đối chiếu quy chế pháp lý, đăng ký, đại diện và thuế giữa Việt Nam với Pháp, Mỹ và Trung Quốc.
  • Phương pháp lịch sử: Áp dụng tại Chương 2 và Chương 3 để khảo cứu sự biến chuyển của các mô hình kinh doanh cá nhân tại Việt Nam từ sau Đại hội VI (năm 1986) đến nay.

Nguồn tư liệu nghiên cứu bao gồm: Các văn bản luật của Việt Nam (Hiến pháp, Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại, Luật Quản lý thuế, Luật Đầu tư qua các thời kỳ); Luật Doanh nghiệp tư nhân Trung Quốc, Nguyên tắc chung Luật Dân sự Trung Quốc (GPCL); Bộ luật Thương mại và Bộ luật Thuế của Pháp; Bộ luật Thuế vụ Liên bang Mỹ (IRC); các báo cáo, Niên giám Thống kê của Tổng cục Thống kê.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu của luận án

Chương này tập trung tổng thuật các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến quyền tự do kinh doanh, bản chất pháp lý, thủ tục đăng ký, chế định đại diện và nghĩa vụ thuế của cá nhân kinh doanh. Tác giả chỉ ra các khoảng trống tri thức mà các công trình trước chưa giải quyết, từ đó xác lập tính cấp thiết, mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, 3 câu hỏi nghiên cứu, 3 giả thuyết nghiên cứu và xây dựng khung lý thuyết gồm: Lý thuyết quyền tự do kinh doanh, Lý thuyết đại diện và Lý thuyết chi phí giao dịch làm kim chỉ nam phân tích.

Chương 2: Khái quát về cá nhân kinh doanh

Chương 2 luận giải cơ sở lý luận của quyền tự do kinh doanh dựa trên các quan điểm của Trần Thúc Linh (1955), Bùi Ngọc Cường (2002), Bùi Xuân Hải (2011), Mai Hồng Quỳ (2012), Dương Anh Sơn (2016). Chương này tái hiện lịch sử hình thành các mô hình kinh doanh cá nhân ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay qua các giai đoạn kinh tế thị trường.

Khảo cứu kinh nghiệm quốc tế cho thấy:

  • Tại Mỹ: Mô hình "Sole Proprietorship" không tạo ra một pháp nhân mới, chủ sở hữu và cơ sở kinh doanh là một về mặt pháp lý, chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản.
  • Tại Pháp: Mô hình "Entreprise Individuelle" (EI) được điều chỉnh bởi Luật Thương mại theo quy chế thương nhân thể nhân, không có tài sản độc lập và chịu trách nhiệm vô hạn.
  • Tại Trung Quốc: Tồn tại song song hộ kinh doanh công nghiệp - thương mại cá thể (theo Bộ luật Dân sự) và doanh nghiệp tư nhân một chủ (theo Luật Doanh nghiệp tư nhân), đều không có tư cách pháp nhân và chịu trách nhiệm vô hạn.

Phân tích bản chất pháp lý tại Việt Nam: Hộ kinh doanh do một cá nhân thành lập và doanh nghiệp tư nhân đều do một thể nhân làm chủ, không có tư cách pháp nhân, chủ sở hữu chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình. Sự phân chia thành hai hình thức riêng biệt với tên gọi khác nhau tạo ra sự phân mảnh không cần thiết. Từ đó, tác giả đưa ra khái niệm chuẩn hóa về cá nhân kinh doanh: Là hình thức kinh doanh do một cá nhân có tài sản, có nơi cư trú thành lập, tự chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động kinh doanh và không có tư cách pháp nhân.

Chương 3: Đăng ký kinh doanh và vấn đề đại diện của cá nhân kinh doanh

Chương 3 tập trung phân tích hai nội dung mang tính quy chế hoạt động:

  • Đăng ký kinh doanh: Pháp luật quốc tế quy định việc đăng ký cá nhân kinh doanh chủ yếu nhằm mục đích quản lý hành chính và xác lập mã số thuế (ở Mỹ, không bắt buộc đăng ký nếu dùng tên thật; ở Pháp, đăng ký qua Sổ danh bạ thương mại RCS hoặc URSSAF với thủ tục đơn giản, chi phí thấp). Tại Việt Nam, tồn tại sự phân cấp bất hợp lý: hộ kinh doanh đăng ký tại cơ quan cấp huyện (UBND cấp huyện), trong khi doanh nghiệp tư nhân đăng ký tại cơ quan cấp tỉnh (Sở Kế hoạch và Đầu tư), làm phân tán cơ sở dữ liệu quốc gia và thiếu đồng bộ trong quản lý. Tác giả kiến nghị thống nhất một đầu mối và quy trình đăng ký cho cá nhân kinh doanh.
  • Vấn đề đại diện: Pháp luật các nước xem chủ sở hữu cá nhân kinh doanh đương nhiên là người đại diện, việc cử người khác quản lý chỉ mang tính chất đại diện theo ủy quyền. Tại Việt Nam, quy định về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tư nhân và cơ chế đại diện của chủ hộ kinh doanh bộc lộ mâu thuẫn giữa Bộ luật Dân sự và Luật Doanh nghiệp, chưa phản ánh đúng bản chất thể nhân. Tác giả đề xuất hoàn thiện quy định đại diện của cá nhân kinh doanh theo nguyên tắc đại diện theo ủy quyền thuần túy.

Chương 4: Nghĩa vụ thuế của cá nhân kinh doanh

Chương 4 phân tích sự bất cập trong chính sách thuế áp dụng đối với các hình thức cá nhân kinh doanh tại Việt Nam thông qua so sánh 3 sắc thuế/khoản thu chính:

Tiêu chí so sánh Hộ kinh doanh (1 cá nhân) tại VN Doanh nghiệp tư nhân tại VN Kinh nghiệm quốc tế (Mỹ, Pháp)
Lệ phí môn bài Áp dụng theo mức doanh thu hàng năm (thấp). Áp dụng theo vốn điều lệ/vốn đầu tư đăng ký (mức cố định cao hơn). Không phân biệt theo hình thức thể nhân; thu phí quản lý nghề nghiệp tối thiểu.
Thuế Giá trị gia tăng (GTGT) Chủ yếu nộp theo phương pháp khoán hoặc tỷ lệ % trên doanh thu. Nộp theo phương pháp khấu trừ hoặc trực tiếp, yêu cầu hóa đơn chuẩn mực. Quản lý chặt chẽ qua hóa đơn chứng từ tài chính (Pháp phạt nặng hành vi không xuất hóa đơn).
Thuế Thu nhập Nộp Thuế thu nhập cá nhân (TNCN) theo tỷ lệ ấn định trên doanh thu. Phải nộp Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) trên lợi nhuận, sau đó chủ DN chịu các ràng buộc thuế TNCN. Đánh thuế 1 lần vào thu nhập cá nhân của chủ sở hữu (Mỹ áp dụng thuế TNCN, tránh đánh thuế trùng).

Chương này chỉ ra việc phân biệt nghĩa vụ thuế giữa hộ kinh doanh và doanh nghiệp tư nhân tạo ra lỗ hổng làm thất thu ngân sách nhà nước, đồng thời khuyến khích các chủ hộ duy trì mô hình hộ kinh doanh để hưởng lợi thuế khoán thay vì minh bạch hóa sổ sách kế toán để chuyển đổi thành doanh nghiệp.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án là công trình tiến sĩ luật học đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về mô hình cá nhân kinh doanh.
  2. Xác lập cơ sở khoa học để khẳng định: Doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh do một cá nhân thành lập về bản chất pháp lý hoàn toàn đồng nhất — đều là hình thức kinh doanh của một thể nhân, không có tư cách pháp nhân độc lập và chịu trách nhiệm tài sản vô hạn.
  3. Chuẩn hóa định nghĩa khoa học pháp lý về cá nhân kinh doanh: Là hình thức kinh doanh do một cá nhân có tài sản, có nơi cư trú thành lập, chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ trong hoạt động kinh doanh và không có tư cách pháp nhân.

Đóng góp về mặt thực tiễn và kiến nghị giải pháp

  1. Thống nhất mô hình lập pháp: Kiến nghị bãi bỏ việc duy trì song song hai mô hình doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh do một cá nhân thành lập, thay thế bằng một mô hình thống nhất là "Cá nhân kinh doanh" trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
  2. Sửa đổi văn bản luật hiện hành: Đề xuất sửa đổi, bổ sung đồng bộ các quy định trong Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại và Luật Quản lý thuế về quy chế pháp lý, thủ tục gia nhập thị trường và chế độ đại diện của thể nhân kinh doanh.
  3. Cải cách quản lý đăng ký kinh doanh: Đề xuất tập trung đầu mối quản lý dữ liệu đăng ký cá nhân kinh doanh vào hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia thống nhất, đơn giản hóa tối đa thủ tục gia nhập và rút lui khỏi thị trường.
  4. Hoàn thiện chính sách thuế:
    • Thống nhất một biểu mức lệ phí môn bài căn cứ trên quy mô doanh thu thay vì hình thức tổ chức.
    • Chuẩn hóa phương pháp tính và thuế suất thuế giá trị gia tăng áp dụng cho cá nhân kinh doanh.
    • Thống nhất áp dụng cơ chế đánh thuế thu nhập một lần (thuế thu nhập cá nhân) đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh của thể nhân, loại bỏ việc áp thuế thu nhập doanh nghiệp đối với loại hình kinh doanh không có tư cách pháp nhân, chống thất thu thuế qua kiểm soát hóa đơn giao dịch.
  5. Định hướng dài hạn: Xây dựng một đạo luật riêng điều chỉnh toàn diện về cá nhân kinh doanh (Luật Cá nhân kinh doanh) trong tương lai.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về phạm vi: Do giới hạn nghiên cứu, luận án chỉ tập trung làm rõ mô hình hộ kinh doanh do một cá nhân thành lập và doanh nghiệp tư nhân; chưa đi sâu giải quyết toàn diện các quy chế pháp lý của mô hình hộ kinh doanh do các thành viên hộ gia đình hoặc nhóm cá nhân cùng thành lập, cũng như chưa bao quát hết nhóm cá nhân hoạt động thương mại lưu động không bắt buộc đăng ký kinh doanh.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp kinh doanh, phá sản cá nhân đối với thể nhân kinh doanh; hoàn thiện khung pháp lý về chuyển đổi tài sản và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, người lao động trong mô hình cá nhân kinh doanh đa chủ sở hữu (hộ gia đình).

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan lập pháp và quản lý nhà nước: Luận án cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn để phục vụ việc sửa đổi Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại và Luật Quản lý thuế, cũng như định hướng xây dựng Luật Cá nhân kinh doanh tại Việt Nam.
  • Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu học thuật: Là tài liệu tham khảo chuyên khảo cho giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự tại các cơ sở đào tạo luật học và quản lý kinh tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Bản chất pháp lý cốt lõi của cá nhân kinh doanh theo luận án là gì?
Bản chất pháp lý của cá nhân kinh doanh là hình thức kinh doanh do một thể nhân làm chủ, không hình thành một thực thể pháp nhân độc lập, không có sự tách bạch tuyệt đối giữa tài sản kinh doanh và tài sản dân sự, và chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình đối với mọi nghĩa vụ, khoản nợ phát sinh từ hoạt động kinh doanh.

2. Tại sao luận án khẳng định hộ kinh doanh (1 cá nhân) và doanh nghiệp tư nhân thực chất là một?
Bởi vì cả hai hình thức này đều do một cá nhân đầu tư vốn, toàn quyền quyết định tổ chức hoạt động kinh doanh, hưởng toàn bộ lợi nhuận và cùng chịu trách nhiệm tài sản vô hạn, không có tư cách pháp nhân. Việc pháp luật hiện hành phân chia thành hai chủ thể với cơ quan đăng ký khác nhau (cấp huyện và cấp tỉnh) và áp dụng cơ chế thuế khác nhau là thiếu cơ sở lý luận nhất quán.

3. Kinh nghiệm của Mỹ và Pháp về việc đánh thuế cá nhân kinh doanh được luận án chỉ ra như thế nào?
Tại Mỹ (mô hình Sole Proprietorship) và Pháp (mô hình Entreprise Individuelle), lợi nhuận từ hoạt động của cá nhân kinh doanh được xem là thu nhập của chính cá nhân chủ sở hữu và chỉ chịu một lần thuế thu nhập cá nhân, không bị đánh thuế thu nhập doanh nghiệp. Quản lý thuế tại Pháp được kiểm soát nghiêm ngặt thông qua hóa đơn chứng từ giao dịch để chống gian lận.

4. Vì sao quy định thuế hiện hành tại Việt Nam lại khiến chủ hộ kinh doanh không muốn chuyển đổi thành doanh nghiệp?
Hộ kinh doanh hiện nay được áp dụng phương pháp nộp thuế khoán/thuế tỷ lệ trên doanh thu với mức đóng thấp và thủ tục sổ sách đơn giản, chi phí giao dịch thấp. Trong khi đó, doanh nghiệp tư nhân phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, thực hiện chế độ kế toán phức tạp và chịu mức lệ phí môn bài cao hơn, dẫn đến sự chênh lệch lớn về chi phí tuân thủ pháp luật.

Kết luận

Luận án "Pháp luật về cá nhân kinh doanh" của nghiên cứu sinh Trần Thị Lệ Thu đã làm rõ nền tảng lý luận và thực tiễn về thể nhân kinh doanh tại Việt Nam. Bằng việc phân tích so sánh với pháp luật của Pháp, Mỹ và Trung Quốc, công trình chứng minh sự đồng nhất về bản chất giữa hộ kinh doanh một chủ và doanh nghiệp tư nhân. Luận án đề xuất giải pháp lập pháp mang tính đồng bộ nhằm xóa bỏ sự phân mảnh pháp lý, thống nhất mô hình cá nhân kinh doanh, hoàn thiện thủ tục đăng ký, chế định đại diện và chính sách thuế công bằng, hướng tới xây dựng đạo luật riêng về cá nhân kinh doanh tại Việt Nam.