CHƯƠNG 1. Lý do nghiên cứu và Mục tiêu nghiên cứu Đề tài này hướng đến hai mục tiêu nghiên cứu chính: (1) phát triển mô hình logic (hay lý thuyết thay đổi) của can thiệp hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) về đào tạo-tư vấn kinh doanh; và (2) đánh giá tác động 1 của can thiệp hỗ trợ SMEs về đào tạo-tư vấn kinh doanh của Chính phủ Việt Nam lên các doanh nghiệp được thụ hưởng. Hai lý do tương ứng với từng mục tiêu nghiên cứu của đề tài được mô tả lần lượt ở Mục 1.1 Mô hình logic của can thiệp hỗ trợ đào tạo-tư vấn về kinh doanh cho SMEs: một khoảng trống trong lý thuyết và trong các nghiên cứu thực nghiệm a. Sự cần thiết của can thiệp hỗ trợ SMEs về đào tạo-tư vấn kinh doanh Nghiên cứu về SMEs được nhiều nhà nghiên cứu, các tổ chức quốc tế, cơ quan hoạch định chính sách quan tâm chú ý (López-Acevodo & Tan 2011, Rakícevic & ctg.
Ở nhiều quốc gia, SMEs thường chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế; theo Nguyễn và ctg. Ngoài ra, vai trò của SMEs nói riêng và khu vực kinh tế tư nhân nói chung ngày càng quan trọng. Ví dụ, ở nước Úc, vào năm 2010, 70% lao động đang làm việc trong các SMEs; các DN thuộc khu vực kinh tế tư nhân của Úc đã đóng góp 85% vào giá trị gia tăng, và gần như 100% ngân sách từ thuế, 83% lao động; ngoài ra, khu vực kinh tế tư nhân của Úc cũng đóng góp tích cực vào việc thực hiện trách nhiệm xã hội của DN (Đào & ctg. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của SMEs vẫn còn nhiều hạn chế so với các doanh nghiệp lớn trong nước hay các tập đoàn đa quốc gia hoạt động trên phạm vi lãnh thổ của 1 “Đánh giá tác động” được dịch từ thuật ngữ “impact evaluation”.
Đánh giá tác động của can thiệp chương trình hay dự án là việc nỗ lực tìm hiểu xem có phải sự thay đổi trong phúc lợi (the changes in well-being) của đối tượng thụ hưởng là do can thiệp chương trình hay dự án (project or program intervention) tạo nên hay không (Khandker & ctg. Các SMEs cũng không áp dụng nhiều các chuẩn mực trong thực tiễn kinh doanh (the business practices standard); vì vậy, nhiều chính phủ cũng như tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ và cả tổ chức tài chính đã xây dựng các chính sách/chương trình hỗ trợ sự phát triển cho các SMEs. Trong đó, một trong các chính sách/chương trình phổ biến nhất là chính sách hay chương trình, dự án (gọi tổng quát là can thiệp) liên quan đến hỗ trợ về hoạt động đào tạo và (hoặc) tư vấn về kinh doanh (Grimm & Paffhausen 2015, López- Acevodo & Tan 2011, McKenzies & Woodruff 2014, Rakícevic & ctg. Chính phủ của các quốc gia cũng cần có những can thiệp bằng chính sách hay chương trình phù hợp để thúc đẩy SMEs đào tạo nhiều hơn cho người lao động (trong đó có người quản lý).
Lý do là can thiệp này góp phần hạn chế tình trạng đầu tư dưới mức cần thiết cho đào tạo của chủ doanh nghiệp, mà điều này vốn bị gây nên bởi tâm lý sợ rủi ro mất lao động sau đào tạo (Dumas & Hanchane 2010, Horn & Fichtner 2003). Bruhn và ctg. 629) đã đề cập rằng: “vốn quản lý (managerial capital) (khác với vốn con người (human capital)) là một loại vốn quan trọng nhưng đang bị thiếu ở các nước đang phát triển”. Do vậy, can thiệp hỗ trợ SMEs về đào tạo-tư vấn kinh doanh được xem là một trong những cách thức phổ biến để cải thiện vốn quản lý 2 của các SMEs ở nhiều quốc gia đang phát triển nói chung (Bruhn & ctg.
2010), cũng như ở Việt Nam nói riêng (Chính phủ 2009, Cục Phát triển doanh nghiệp 2014a). Vốn quản lý có vai trò quan trọng trong việc tăng sản lượng của DN thông qua cải thiện năng suất biên của các yếu tố đầu vào khác (chẳng hạn như lao động, vốn vật chất) (Bruhn & ctg. 2010, Lucas 1978), hoặc thông qua ảnh hưởng đến số lượng và chủng loại các yếu tố đầu vào khác mà DN sẽ mua hay thuê (Bruhn & ctg. Ngoài ra, khi phân tích cấu trúc quản trị bên trong DN, Rosen (1982, tr.
312) đề cập rằng “một cải thiện nhỏ trong quyết định của cấp trên sẽ có tác động vô cùng lớn đến tổ chức (hay công ty) dưới góc độ tổng thể bởi vì nó tác động đến năng suất của tất cả các nhân viên cấp dưới”. Sự thiếu vắng Mô hình logic của can thiệp hỗ trợ SMEs về đào tạo-tư vấn kinh doanh trong nhiều nghiên cứu thực nghiệm 2 Trong nghiên cứu này, thuật ngữ Tiếng Việt “vốn quản lý” hay “vốn quản trị” là tương tự như nhau, được dịch từ thuật ngữ “managerial capital” trong Tiếng Anh. 23 Một cách hoàn hảo, khi thiết kế một chương trình/dự án phát triển, hay khi thực hiện một nghiên cứu thực nghiệm mang tính định lượng về đánh giá tác động của các chương trình/dự án phát triển cụ thể, người thiết kế chương trình, người đánh giá cần có một mô hình logic (hay lý thuyết thay đổi) của chương trình/dự án cụ thể để làm căn cứ 3 (Imas & Rist 2009, Posavac 2011, Gertler & ctg. Trong thực tiễn đánh giá tác động, cũng như đánh giá quá trình của các can thiệp khác nhau, cũng có những nghiên cứu đã xây dựng mô hình logic của can thiệp được đánh giá (dù đơn giản hay phức tạp).
Chẳng hạn như mô hình logic của can thiệp tham gia an toàn lao động & sức khỏe nghề nghiệp trong lĩnh vực xây dựng ở vùng St. Louis Metropolitan, Missouri, Hoa Kỳ (Jaegers & ctg. 2014), hay mô hình logic của can thiệp tổ chức học tập theo nhóm cho học viên ngành y tá trong đào tạo thực hành lâm sàng ở Thụy Điển (Palsson 2017). Mô hình logic của can thiệp bắt đầu đào tạo sớm cho trẻ em dựa trên gia đình ở Hoa Kỳ (Raikes & ctg.
Một số can thiệp về hỗ trợ đào tạo-tư vấn kinh doanh cho các SMEs đã được triển khai, và đã được đánh giá tác động nhằm thấy được tính hữu ích hay không hữu ích của can thiệp đối với đối tượng được thụ hưởng để từ đó có được những điều chỉnh can thiệp theo hướng tốt hơn, tăng cường trách nhiệm giải trình giữa các đối tác liên quan (chính quyền, đơn vị tài trợ, đơn vị triển khai, đối tượng thụ hưởng, dân cư, và các bên liên quan khác), hay để thiết kế các chính sách, chương trình, dự án tốt hơn trong tương lai. Thật vậy, trong những năm gần đây, ở bối cảnh nhiều quốc gia trên thế giới, có nhiều nghiên cứu đánh giá tác động của các chương trình/dự án hỗ trợ SMEs nói chung, và hỗ trợ SMEs về đào tạo-tư vấn kinh doanh nói riêng lên các doanh nghiệp thụ hưởng đã được thực hiện. Có nghiên cứu sử dụng thiết kế bán thí nghiệm từ dữ liệu khảo sát hoặc các phương pháp khác mà có thể kiểm soát thiên lệch do lựa chọn (Jaramillo & Diaz 2011, Todo 2011, Cancino & ctg. 2015, Dumas & Hanchane 2010, López-Acevodo & Tan 3 Hoặc ít ra, cần có khung logic (hay khung log, hay bảng logic) của can thiệp cụ thể.
Khung logic của can thiệp là một biến thể của Mô hình logic (hay lý thuyết thay đổi). Một khung logic nối các hoạt động, kết quả, mục tiêu của chính sách/chương trình/dự án theo cấp bậc. Các cấp bậc này có thể là các mục tiêu chính (hay các cấu phần chính) của can thiệp. Đối với mỗi cấu phần của can thiệp, khung log nêu rõ các mục tiêu, các chỉ số đo lường kết quả, nguồn thông tin, các giả định.
Khung logic cơ bản là một bảng 4 dòng x 4 cột nằm tóm tắt những yếu tố quan trọng của can thiệp. Không phải khung log của một can thiệp cụ thể nào cũng được dựa trên Mô hình logic của can thiệp tổng quát, mô hình logic của can thiệp có liên quan, hoặc những căn cứ lý thuyết cẩn thận. Vì vậy, khung logic thường là một công cụ để hoạch định, quản lý chương trình/dự án trong thực tiễn, gắn với từng can thiệp cụ thể. Khung log cũng có những hữu ích nhất định nhưng gần đây nó bị chỉ trích nhiều; ví dụ nó chỉ hướng đến các mục tiêu mà người hoạch định chương trình đã đề ra, không được cập nhật, người đánh giá có thể bị rơi vào sự chi tiết quá mức mà ít để ý đến bức tranh tổng quát, hay quá đơn giản (Imas & Rist 2009) 24 2011), và có nghiên cứu sử dụng thiết kế thí nghiệm (Vũ 2012, Mano & ctg.
Tuy vậy, sự thiếu vắng nền tảng của ít nhất một mô hình logic của can thiệp hỗ trợ SMEs về đào tạo-tư vấn kinh doanh (dù còn đơn giản) mà có căn cứ học thuật cẩn thận là tình hình chung của các nghiên cứu đánh giá tác động định lượng vừa được đề cập ở trên, kể cả đối với nghiên cứu đánh giá tác động của nhiều chương trình hỗ trợ SMEs ở 6 nước thuộc Châu Mỹ La tinh do López-Acevodo và Tan (2011) thực hiện hay nghiên cứu ở Việt Nam mà đã được thực hiện bởi Vũ (2012), Higuchi và ctg. (2015), hay nghiên cứu ở Tanzania của Higuchi và ctg. Mặc dù các nghiên cứu trên đã sử dụng những phương pháp định lượng phù hợp và cũng có một số căn cứ dựa trên lý thuyết hay các nghiên cứu trước. Hạn chế này làm cho người đánh giá khó có thể đánh giá được đầy đủ các kết quả tiềm năng, khó lý giải được cơ chế ảnh hưởng của can thiệp, và cũng khó có được những lý giải sâu hơn cho những phát hiện từ đánh giá tác động định lượng.
Mô hình logic của can thiệp hỗ trợ SMEs về đào tạo tư vấn-kinh doanh hiện có vẫn còn tồn tại một số hạn chế và giới thiệu một vài khe hổng nghiên cứu. Gần đây, các nhà nghiên cứu có thể tìm được một Mô hình logic (hay lý thuyết thay đổi) của gói chương trình hỗ trợ SMEs (trong đó có chương trình hỗ trợ đào tạo-tư vấn về kinh doanh và một số chương trình hỗ trợ SMEs khác) do Grimm và Paffhausen (2015) đề xuất. Mô hình logic của chương trình hỗ trợ đào tạo-tư vấn kinh doanh được đề cập một cách chi tiết hơn nhưng vẫn ở mức độ sơ lược với cách thể hiện trực quan bởi chuỗi nhân quả trong một nghiên cứu chính sách của Ngân hàng phát triển của Đức Grimm và Paffhausen (2014); ngoài ra, những nội dung quan trọng của mô hình này có thể tìm thấy trong một nghiên cứu chính sách của Ngân hàng thế giới được thực hiện bởi McKenzies và Woodruff (2012, 2014).