chương 1 CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG TRÍCH LẬP VÀ SỬ DUNGQUY PHÁT TRIEN KH&CN CUA DOANH NGHIỆP 2. Khái lược về cơ chế tạo nguồn cho NC&TK của DN tại một số nước trên thế giới 2. Thực trạng trích lập quỹ phát triển KH&CN của Việt nam 2.
Nghiên cứu trường hợp Công ty VTC Mobile Tiểu kết chương 2 CHUONG 3. GIẢI PHÁP KHAC PHUC RÀO CAN TRONG THÀNH LẬP VÀ SỬ DỤNG QUY PHÁT TRIEN KH&CN CUA DOANH NGHIỆP 3. Tiếp cận đề xuất giải pháp 3. Một số giải pháp khắc phục rao cản 3.
Nhóm giải pháp cục bộ (toi thiểu) 3. Nhóm giải pháp toi đa — trao quyền tự chủ cho DN trong việc trích lập và giải ngan quy Tiểu kết chương 3 KET LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO 16 CHUONG 1. CƠ SOLY LUẬN CUA VIỆC THÀNH LAP VÀ SỬ DỤNG QUY PHÁT TRIEN KH&CN CUA DOANH NGHIỆP 1. Tác động của hoạt động nghiên cứu và triển khai va đổi mới công nghệ đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Hoạt động NC&TK, DMCN với tư cách là những khái niệm côngcụ bởi liên quan trực tiếp đến việc thành lập và sử dụng quỹ phát triển KH&CN của DN nénsé được xem xét một cách chi tiết.
Đơn giản là vì, rất khó có thé giải thích cho các nhà quản lý tài chính hiểu được nếu như cứ nhằm lẫn bản chất của nghiên cứu và phát triển (Luật KH&CN năm 2013), nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Theo Vũ Cao Đàm (2015) đây chính là căn nguyên dẫn đến sự lệch chuẩn trong xác định phô hoạt động của chu trình này làm nảy sinh các khó khăn trong trích lập, đặc biệt trong sử dụng quỹ phát triển KH&CN của DN. Hoạt động nghiên cứu và triển khai Hoạt động nghiên cứu và triển khai là hoạt động nghiên cứu khoa học (R) và trién khai thực nghiệm công nghệ (D). Định nghĩa này tương đối phổ quát khả đĩ làm cơ sở phân định chế độ tài chính phù hợpcho từnggiai đoạn của hoạt động NC&TK.
Theo đó, hoạt động NC&TK được chia thành 3 giai đoạn: giai đoạn nghiên cứu cơ bản; giai đoạn nghiên cứu ứng dụng và triển khai (xem sơ d61. Theo cách phân chia trên sơ đồ 1.1 thì: - Nghiên cứu cơ bảnlà những nghiên cứu phát hiện thuộc tính, cau trúc, động thái các sự vật, tương tác trong nội bộ sự vật và mối liên hệ giữa sự vật với các sự vật khác. Sản phẩm nghiên cứu cơ bản có thé là các khám phá, phát hiện, phát minh, dẫn đến việc hình thành một hệ thống lý thuyết có giá trị tổng quát, ảnh hưởng đến một hoặc nhiều lĩnh vực khoa học. Ví dụ, thuyết tiến hóa của Darwin, thuyết tương đốicủa Einstein; quy luật giá trị thang dư của Marx.
Nghiên cứu | _|Nghiên cứu cơ cơ bản bản thuan túy Nghiên cứu cơ Sơ đồ 1. Hoạt động NC&TK và loại hình sản phẩm Nghiên cứu cơ bản được phân thành hai loại: nghiên cứu cơ bản thuần tuý và nghiên cứu cơ bản định hướng; + Nghiên cứu cơ bản thuần tuý, còn được gọi là nghiên cứu cơ bản tự do, hoặc nghiên cứu cơ bản không định hướng, là những nghiên cứu về bản chất sự vật dé nâng cao nhận thức, chưa có hoặc chưa bàn đến ý nghĩa ứng dụng; + Nghiên cứu cơ bản định hướng, là những nghiên cứu cơ bản đã dự kiến trước mục đích ứng dụng. Các hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên, kinh tế, xã hội, v. đều có thể xem là nghiên cứu cơ bản định hướng.
Nghiên cứu cơ bản định hướng được phân chia thành nghiên cứu nền tang và nghiên cứu chuyên dé; + Nghiên cứu nên tang, là nghiên cứu về qui luật tông thé của một hệ thống sự vật. Hoạt động điều tra cơ bản tài nguyên và các điều kiện thiên nhiên như địa chất, nghiên cứu đại dương, khí quyền, khí tượng, điều tra cơ bản về kinh tế, xã hội đều thuộc loại nghiên cứu nền tảng; + Nghiên cứu chuyên dé, là nghiên cứu về một hiện tượng đặc biệt của sự vật, ví dụ trạng thái plasma của vật chất, bức xạ vũ trụ, gen di truyén. Nghiên cứu chuyên đề vừa dẫn đến hình thành những cơ sở lý thuyết, đồng thời có thé dẫn đến những ứng dụng có ý nghĩa thực tiễn; - Nghiên cứu ứng dụnglà sự vận dụng qui luật được phát hiện từ nghiên cứu cơ bản đề giải thích một sự vật, tạo ra những nguyên lý mới về các giải pháp 18 và áp dụng chúng vào sản xuất và đời sống. Giải pháp được hiểu theo một nghĩa rộng nhất của thuật ngữ này: có thé là một giải pháp về công nghệ, về sản phẩm, về tô chức quản lý.
Một số giải pháp công nghệ có thể trở thành sáng chế. Cần lưu ý rằng, kết quả nghiên cứu ứng dụng thì chưa ứng dụng được. Đề có thê áp dụng kết quả nghiên cứu ứng dụng vào thực tế vẫn còn phải tiến hành một loại hình nghiên cứu khác, có tên gọi là triển khai; - Triển khai, còn gọi là triển khai thực nghiệm hoặc triển khai thực nghiệm kỹ thuật, là sự vận dụng các quy luật (thu được từ nghiên cứu cơ bản) và các nguyên lý (thu được từ nghiên cứu ứng dụng) để đưa ra các vật mẫu (prototype) và những công nghệ sản xuất vật mẫu, với những tham số khả thi về kỹ thuật. Điều cần lưu ý là, sản phẩm của triển khai chỉ mới là những hình mẫu khả thi kỹ thuật, nghĩa là còn phải tiếp tục hoàn thiện về mặt kỹ thuật.
Đề áp dụng được kết quả triển khai, còn phải tiến hành nghiên cứu những tính khả thi khác, như khả thi tài chính, khả thi kinh tế, khả thi môi trường, khả thi xã hội. Hoạt động triển khai gồm triển khai trong phòng thí nghiệm và triển khai bán đại trà; + Triển khai trong phòng thí nghiệm, là loại hình triển khai nhằm khang định kết quả sao cho ra được sản phẩm, chưa quan tâm đến qui mô áp dụng. Trong những nghiên cứu về công nghệ, loại hình này được thực hiện trong các phòng thí nghiệm, labô công nghệ, nhà kính (trong nghiên cứu nông nghiệp). Trên một qui mô lớn hơn, hoạt động triển khai cũng được tiến hành trong các xưởng thực nghiệm thuộc tô chức nghiên cứu hoặc xí nghiệp sản xuất; + Triển khai bản đại trà, còn gọi là pilot trong các nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học kỹ thuật và khoa học công nghệ, là một dạng triển khai nhằm kiểm chứng giả thuyết về hình mẫu trên một qui mô nhất định, thường là qui mô áp dụng nhỏ, hay qui mô bán công nghiệp.
Khái niệm triển khai được áp dụng trong cả nghiên cứu khoa học kỹ thuật và xã hội, trong các nghiên cứu về khoa học kỹ thuật, hoạt động triển khai được áp dụng khi chế tạo một mẫu công nghệ mới hoặc sản phẩm mới, trong cácnghiên cứu khoa học xã hội có thé lay ví dụ thử nghiệm một phương pháp 19 giảng dạy ở các lớp thí điểm, hoặc thử nghiệm tạo một mô hình quản lý mới V. Toàn bộ các loại hình nghiên cứu và mối liên hệ giữa các loại hình nghiên cứu được trình bày trong sơ đồ 1. Việc phân chia các loại hình nghiên cứu là dé nhận thức rõ bản chất của nghiên cứu khoa học, dé có cơ sở lập kế hoạch nghiên cứu, cụ thê hoá các cam kết trong hợp đồng nghiên cứu giữa các đối tác. Tuy nhiên, trên thực tế, trong một đề tài có thể tồn tại cả ba loại hình nghiên cứu, hoặc tồn tại hai trong ba loại hình nghiên cứu.
Liên quan đến chế độ tài chính đối với hoạt động KH&CN của DN, cũng can làm rõ khái niệm “phát triển công nghệ”. Phát triển công nghệ là hoạt động sau nghiên cứu nhằm làm chủ, hoàn thiện, nhân rộng tác dụng của CN [9,18]. Đây là mảng hoạt động quan trọng trong chu trình nghiên cứu - sản xuất của DN nhưng lại không được quy định trong Luật KH&CN năm 2013. Luật này chỉ quy định “phát triển công nghệ bao gồm triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm”'.
Theo tai liệu [7], phát triển công nghệ bao gồm: i) Mở rộng công nghệ 21 (extensive development of technology) hoặc phổ dụng công nghệ (diffusion of technology) là hoạt động nhân rộng việc áp dụng công nghệ mới vào sản xuất; ii) Nâng cap công nghệ (intensive development of technology hoặc techonology upgrading) là hoạt dong NC&TK dé hoàn thiện và nâng cao trình độ của công nghệ đã được áp dụng trong sản xuất của DN. Nội dung này thuộc phạm trù của chính sách đổi mới [12]. Đó là sự DMCN dựa trên kết quả NC&TK các công nghệ của bản thân DN hoặc ky hợp đồng chuyên giao CN để nhận một công nghệ có trình độ cao hơn từ các DN khác (chuyên giao ngang), hoặc nhận một CN mới từ kết qua pilot của các tổ chức NC&TK (chuyên giao đọc), hoặc thậm chí ký hợp đồng chuyền giao CN từ nước ngoài (bao gồm cả chuyển giao dọc và chuyền giao ngang). , Những hoạt động này được Bộ Tài chính đều cho là ý tướng và không chỉ cho ý tưởng khi duyệt chỉ từ quỹ phát triển KH&CN của doanh nghiệp.
Năng lực NC& TK 1. Khái niệm năng lực NC&TK Năng lực NC&TK là năng lực tiến hành các hoạt động NC&TK nhằm tạo ra và ứng dụng các kết quả thu được vào thực tiễn đời sống. Năng lực NC&TK thé hiện qua cac yếu tố nguồn lực đầu vào cho hoạt động NC&TK, chính là nguồn lực tạo nên sức mạnh của hoạt động NC&TK và đảm bảo sự thực thi các ý tưởng nghiên cứu [5]. Năng lực ứng dụng kết quả NC&TK cũng bao gồm các yếu tố nguồn lực đầu vào dé có thé áp dụng các kết quả NC&TK đã được tạo ra vào thực tiễn sản xuất, đời sống và mang lại các hiệu quả về khoa học, công nghệ, kinh tẾ, xã hội.
Năng lực NC&TK, tiếp cận ở góc độ liên quan đến năng lực công nghệ, là một yếu tố cấu thành năng lực công nghệ cùng với các yếu tổ khác như ha tầng thông tin, ha tang công nghiệp, nang lực thực hiện các dịch vụ kỹ thuật. Cac yếu tố của năng lực NC&TK Với cách tiếp cận theo các yếu tô đầu vào của hoạt động NC&TK, năng lực NC&TK thường được xem xét trên các yếu tố cơ bản là nhân lực, tài chính, thông tin KH&CN và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ NC&TK [10]. - Về nhân lực, năng lực NC&TK của một tô chức thể hiện qua sỐ lượng, cơ cấu về trình độ chuyên môn, về biên chế (chính nhiệm, kiêm nhiệm, hợp đồng), về giới tính.của nhân lực tham gia hoạt động NC&TK và khả năng đáp ứng các yêu cầu của hoạt động này.