Chương 1. Cơ sở khoa học về chính sách phát triển thị trường KH&CN; Chương 2. Thực trạng chính sách phát triển thị trường KH&CN trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh; Chương 3. Giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển thị trường KH&CN.
8 Luan van CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1. Những vấn đề chung về thị trƣờng khoa học và công nghệ 1. Hệ thống khái niệm công cụ 1. Khoa học Khoa học là một khái niệm phức tạp và có thể tiếp cận từ nhiều phương diện khác nhau như [15]: Khoa học là một hệ thống tri thức; hoặc Khoa học là một hình thái ý thức xã hội; hoặc Khoa học là một hoạt động xã hội.
Chúng tôi tiếp cận khái niệm khoa học theo các phương diện đã nêu thì khoa học là một hệ thống tri thức, và là một hoạt động xã hội theo đó: Khoa học là một hệ thống tri thức: Nội hàm này phản ánh về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy [5, Đ. Hệ thống tri thức ở đây tức là hệ thống tri thức khoa học và khoa học trong trường hợp này được hiểu như một hệ thống tĩnh tại các tri thức, khoa học được xem như một sản phẩm trí tuệ được tích lũy trong quá trình hoạt động tìm tòi và sáng tạo của con người. Khoa học là một hoạt động xã hội: tư cách là một hoạt động, hoạt động khoa học hướng tới ít nhất 02 mục đích sau: Phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức về thế giới khách quan; Sáng tạo các sự vật mới, phát triển các phương tiện cải tạo thế giới khách quan. Cùng với hoạt động khoa học, một loại khái niệm khác cũng nảy sinh, chẳng hạn khái niệm nhà khoa học, tổ chức khoa học, nghiên cứu khoa học (NCKH).
Khi tiếp cận khoa học là một hoạt động xã hội thì hoạt động NCKH được xem là hoạt động quan trọng nhất trong số các nội dung của hoạt động khoa học. Với những luận giải trên khái niệm khoa học trong luận văn này được hiểu theo nghĩa sau: Khoa học là hệ thống các tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; Khoa học là hoạt động nghiên cứu khoa học, bao gồm hoạt động nghiên cứu cơ bản và hoạt động nghiên cứu ứng dụng. Công nghệ Tương tự khái niệm khoa học thì công nghệ cũng đang tồn tại nhiều định nghĩa gồm: 9 Luan van Theo pháp luật Việt Nam, công nghệ là “giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”[5, Đ.Root, công nghệ là “dạng kiến thức có thể áp dụng được vào việc sản xuất ra các sản phẩm và sáng tạo ra các sản phẩm mới”. Hoặc Theo tác giả J.Baranson, công nghệ là: “tập hợp các kiến thức về một quy trình hoặc kỹ thuật chế biến cần thiết để sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm hoàn chỉnh”.
Công nghệ là: “sự áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng những nghiên cứu và cách xử lý một cách có hệ thống và có phương pháp”.Strunk) Tác giả Naware Sharif thì lại cho rằng, công nghệ là: “bao gồm khả năng sáng tạo, đổi mới và lựa chọn từ những kỹ thuật khác nhau và sử dụng chúng một cách tối ưu vào tập hợp các yếu tố gồm: Môi trường vật chất, xã hội và văn hóa”. Theo đó, công nghệ gồm 04 thành tố (components): Phần kỹ thuật (technoware); Phần thông tin (infoware); Phần con người (humanware); Phần tổ chức (orgaware). Trong đó, phần kỹ thuật bao gồm máy móc, phương tiện, thiết bị, hệ thống hạ tầng kỹ thuật.; phần thông tin bao gồm tri thức kỹ thuật, quy trình, bí quyết, kinh nghiệm.; phần con người bao gồm nhân lực, kiến thức, sự khéo tay; phần tổ chức bao gồm các sắp đặt hệ thống thiết bị. Dựa vào các định nghĩa nêu trên của khái niệm công nghệ được hiểu là bất cứ đối tượng nào thỏa mãn các đặc điểm sau: Tính lặp lại chu kỳ: Tính lặp lại chu kỳ một thao tác đã chuẩn hóa giúp cho công nghệ tạo ra các sản phẩm cùng loại, cùng phẩm cấp và giống hệt nhau; Tính tin cậy của quá trình: Quá trình công nghệ là quá trình không được phép có rủi ro, bởi rủi ro trong công nghệ sẽ dẫn đến phế phẩm, phá vỡ mục tiêu của hoạt động sản xuất; Tính xác định của sản phẩm: Sản phẩm công nghệ đã được biết trước từ khi đầu tư vào hoạt động sản xuất.
Tính năng của sản phẩm cũng đã được biết trước từ trước khi sản xuất; Một công nghệ hoàn chỉnh thường gồm 04 thành phần: Phần kỹ thuật (máy móc, phương tiện, dây chuyền, thiết bị.), phần thông tin (tri thức về kỹ thuật, quy trình, bí 10 Luan van quyết.), phần con người (trình độ nhân lực, sự khéo tay.), phần tổ chức (cách thức sắp xếp vận hành máy móc, thiết bị hoặc sắp xếp nhân lực. Để giúp nhận diện rõ hơn khái niệm công nghệ, Luật Chuyển giao công nghệ (CGCN) năm 2006 có quy định một số đối tượng cụ thể của công nghệ như sau [2, Đ.7]: Bí quyết kỹ thuật là: Thông tin được tích luỹ, khám phá trong quá trình nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh của chủ sở hữu công nghệ có ý nghĩa quyết định chất lượng, khả năng cạnh tranh của công nghệ, sản phẩm công nghệ [2, Đ.3]; Kiến thức kỹ thuật: Là kiến thức về công nghệ được chuyển giao dưới dạng phương án công nghệ, quy trình công nghệ, giải pháp kỹ thuật, công thức, thông số kỹ thuật, bản vẽ, sơ đồ kỹ thuật, chương trình máy tính, thông tin dữ liệu; Giải pháp ký thuật: Là giải pháp hợp lý hoá sản xuất, đổi mới công nghệ. Liên quan đến khái niệm công nghệ, là khái niệm công nghệ cao (CNC). Theo Luật CNC [3, Đ.3], CNC được hiểu là công nghệ có hàm lượng cao về NCKH và phát triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu KH&CN hiện đại; tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường; có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có.
Thị trường khoa học và công nghệ Về khái niệm thị trường. Theo định nghĩa của từ điển tiếng Việt, thị trường được hiểu là: “1. Lĩnh vực lưu thông hàng hóa, tổng thể nói chung những hoạt động mua bán; 2. Nơi thường xuyên tiêu thụ hàng hóa” [27].
Như vậy, điều kiện tiên quyết để tồn tại thị trường là phải có hàng hóa để mua bán, nếu không có hàng hóa thì không tồn tại thị trường. Về nguyên tắc, thị trường bao gồm 04 yếu tố cơ bản: Có hàng hóa (có thể tồn tại ở dạng hữu hình - công cụ, phương tiện hoặc ở dạng vô hình - tài sản trí tuệ); Người bán (bên cung hàng hóa); Người mua (bên cầu hàng hóa); Tập hợp các quy định điều chỉnh hoạt động mua, bán. Theo quy định của Thông tư số 32/2014/TT-BKHCN ngày 06/11/2014 của Bộ trưởng Bộ KH&CN quy định quản lý chương trình phát triển thị trường KH&CN đến năm 2020 thì khái niệm về Thị trường KH&CN được hiểu như sau: “Thị trường KH&CN được hiểu là môi trường pháp lý, đầu tư và thương mại thúc đẩy quan hệ giao dịch, trao đổi, mua 11 Luan van bán các sản phẩm, dịch vụ KH&CN được vận hành có sự định hướng, điều tiết và hỗ trợ của Nhà nước”. Trong luận văn, khái niệm thị trường KH&CN được hiểu như quy định nêu trên của Thông tư số 32/2014/TT-BKHCN.
Các yếu tố cấu thành thị trƣờng khoa học và công nghệ Tương tự các loại thị trường khác, thị trường KH&CN có 5 yếu tố cơ bản để hình thành bao gồm: Khung pháp lý cho các giao dịch trên thị trường; Bên mua; Bên bán; Hàng hóa và cơ sở hình thành giá cả; Các hoạt động hỗ trợ dịch vụ xúc tác giữa người mua và người bán. Tuy nhiên, nội dung của các yếu tố này trong thị trường KH&CN có những đặc điểm khác biệt so với các yếu tố tương đương trong các loại thị trường khác. Khung pháp lý cho các giao dịch trên thị trường Các quy tắc liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa KH&CN, gồm: Pháp luật về sở hữu trí tuệ (SHTT); Pháp luật về chuyển giao công nghệ (CGCN); Pháp luật về cạnh tranh. Ngoài ra, còn một số văn bản QPPL (dưới luật) khác nhằm đảm bảo cho các giao dịch thị trường KH&CN.
Pháp luật về SHTT: Pháp luật về SHTT hiện có 02 loại, đó là pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế. Tại mỗi quốc gia đều có các quy định riêng về SHTT. Đối với pháp luật quốc tế về SHTT, nguồn của chúng chủ yếu nằm trong các điều ước quốc tế đa biên hoặc đa phương. Chẳng hạn, Hiệp định về liên quan đến quyền thương mại của quyền SHTT (Hiệp định TRIPS), được ký kết năm 1994, có hiệu lực đối với tất cả các thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO); Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp, được ký kết ngày 20/3/1883, hiện có 174 quốc gia là thành viên.
Về cơ bản pháp luật của các quốc gia, cũng như pháp luật quốc tế hiện đều bảo hộ SHTT đối với hầu hết các sản phẩm KH&CN. Chẳng hạn, theo Hiệp định TRIPS các đối tượng SHTT được bảo hộ gồm: Bản quyền (Copyright) đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học, bao gồm cả chương trình máy tính và cơ sở dữ liệu; Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hàng hóa bao hồm nhãn hiệu dịch vụ, chỉ dẫn địa lý bao gồm tên gọi xuất xứ hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, thiết kế và bố trí mạch tích hợp, chống cạnh tranh bất chính, bí quyết kỹ thuật và bí quyết thương mại; Quyền liên quan đối với quyền của người biểu diễn; Giống cây trồng. 12 Luan van Việc bảo hộ quyền SHTT có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển của thị trường KH&CN, như sau: Thứ nhất, với việc được cấp văn bằng bảo hộ (patent) có thể là: Sáng chế; Giải pháp hữu ích; Kiểu dáng công nghiệp.