Chương 1 TIỀM NĂNG VÀ HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ TRÊN ĐỊA BÀN BÀ RỊA – VŨNG TÀU TRƯỚC KHI THÀNH LẬP TỈNH 1. Tiềm năng khoa học - công nghệ của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 1. Đặc điểm tự nhiên - xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu được thành lập theo Nghị quyết kỳ họp thứ 9, Quốc hội khoá VIII, ngày 12 tháng 8 năm 1991, gồm năm đơn vị hành chính: thành phố Vũng Tàu, huyện Côn Đảo (thuộc Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo) và các huyện: Châu Thành, Long Đất, Xuyên Mộc (thuộc tỉnh Đồng Nai). Cho đến năm 2012 tỉnh có 8 đơn vị hành chính gồm 2 thành phố là: thành phố Vũng Tàu, thành phố Bà Rịa và 6 huyện: Long Điền, Đất Đỏ, Xuyên Mộc, Châu Đức, Tân Thành và Côn Đảo.
Bà Rịa - Vũng Tàu nằm ở vị trí giao thông hết sức thuận lợi cho sự phát triển, đó là nằm trên trục đường xuyên Á, có hệ thống cảng biển, sân bay và mạng lưới đường sông, đường biển thuận lợi. Các đường quốc lộ 51, 55, 56 cùng với hệ thống đường tỉnh lộ, huyện lộ là những mạch máu chính gắn kết quan hệ toàn diện của Bà Rịa - Vũng Tàu với các tỉnh khác trong cả nước và quốc tế. Đặc biệt, tỉnh nằm trong vùng năng động nhất của Việt Nam hiện nay, gần Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Nai nên có nhiều thuận lợi trong việc liên kết trao đổi, giao lưu hàng hoá, công nghệ, lao động kỹ thuật. Đặc điểm địa lý, tự nhiên Vị trí địa lý: Phần đất liền của Bà Rịa - Vũng Tàu nằm ở tọa độ từ 10 005’ đến 10048’ vĩ độ Bắc và từ 107 0 đến 107035’ kinh đông, là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, là cửa ngõ phía Đông của Sài Gòn, phía Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, phía Nam là biển Đông, phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, phía Tây giáp thành phố Hồ Chí Minh.
Quần đảo Côn Lôn hay còn gọi là Côn Đảo bao gồm 16 hòn đảo lớn nhỏ, nằm cách Vũng Tàu 185km, cách Thành phố Hồ Chí Minh 230km và cách cửa sông Hậu 83km; có tọa độ 803-8049 vĩ độ Bắc và 106031-106046 kinh độ Đông. Côn Đảo có vị trí chiến lược quan trọng: nằm sát với đường hàng hải quốc tế từ Âu sang Á, ngay giữa ngư trường lớn của vùng biển Đông Nam bộ và gần khu vực khai thác dầu khí của thềm lục địa phía Nam nước ta. 9 Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 2047,45 km2 tương đương với thành phố Hồ Chí Minh, bằng một phần ba tỉnh Đồng Nai, chiếm gần 0,6% diện tích của cả nước. Ngoài ra, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu còn quản lý hơn 100.000 km 2 thềm lục địa Nam biển Đông, nơi có nhiều tiềm năng để phát triển công nghiệp dầu khí, khai thác đánh bắt hải sản, du lịch,.
Với chiều dài trên 100 km đường bờ biển, Bà Rịa – Vũng Tàu là nơi có nhiều vũng, vịnh và bãi cát đẹp, lý tưởng với cơ sở dịch vụ - du lịch, nghỉ mát tiện nghi như Vũng Tàu, Long Hải, Hồ Cốc, Hồ Tràm, Hồ Linh, Bình Châu. Biển và bờ biển Bà Rịa - Vũng Tàu không những nơi chứa nhiều tài nguyên về hải sản, muối, cát trắng, bãi tắm tham quan du lịch và đặc biệt là dầu mỏ, khí đốt (trữ lượng khoảng 1,5 tỷ tấn) mà còn có tầm quan trọng to lớn trong an ninh - quốc phòng và giao lưu quốc tế. Về địa hình: Địa hình Bà Rịa - Vũng Tàu có sự phân biệt rõ rệt giữa 3 dạng: vùng đồi núi thấp, bậc thềm phù sa cổ và đồng bằng ven biển, cụ thể như: Vùng đồi núi thấp: Toàn tỉnh có hơn 3/4 diện tích đồi núi, thung lũng thấp, độ cao trung bình từ 100 đến 300 mét so với mực nước biển, có những ngọn núi tương đối cao như núi An Hải (Côn Đảo), núi Mây Tàu (Xuyên Mộc), núi Dinh (Bà Rịa)… vươn ra biển tạo thành nhiều vũng, vịnh, mũi, bán đảo, đảo. Bậc thềm phù sa cổ của Bà Rịa – Vũng Tàu có độ cao từ 50 đến 100 mét, là sự tiếp nối giữa miền núi cao và miền đồng bằng ven biển, trải dài từ Tân Thành qua Châu Đức sang Long Đất và Xuyên Mộc.
Đây là vùng đất khá bằng phẳng, xen giữa là vùng đất đỏ bazan màu mỡ, thích hợp với các loại cây công nghiệp và cây ăn trái. Đồng bằng ven biển được kiến tạo từ phù sa màu mỡ ven bờ biển phía Nam, cao khoảng 50 mét so với mực nước biển. Đây chính là nơi dừng chân đầu tiên của cộng đồng người Việt trên đường tiến về phương Nam hồi thế kỷ XVI-XVII. Qua nhiều thế hệ, họ đã tạo ra những ruộng lúa, những đồng muối rộng lớn.
Về khí hậu: Bà Rịa – Vũng Tàu nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa của Đông Nam Bộ với đai mưa thấp ven biển, có hai mùa mưa và khô rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa ở đây khá lớn dao động khoảng 1. Số giờ nắng cũng tương đối cao, bình quân khoảng 2.
Với nền nhiệt độ tương đối ổn định và lượng mưa tương đối lớn đã cung cấp đủ nước và tạo điều kiện thuận lợi cho sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn. Nhìn chung, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có khí hậu 10 khá ổn định, ôn hòa và mát mẻ. Đây chính là một trong những nguồn lợi được thiên nhiên ưu đãi so với các tỉnh khác ở miền Đông Nam Bộ. Về sông ngòi: Hệ thống sông ngòi phần lớn là những dòng sông, con suối thuộc loại trung bình và nhỏ, phân bố khá dày, cung cấp nguồn nước ngọt cho sản xuất và đời sống.
Sông Ray, sông Thị Vãi, sông Dinh và các cửa sông rạch trên địa bàn Vũng Tàu - Cần Giờ là nơi hội tụ của ba nguồn nước lớn từ sông Lòng Tàu, sông Đồng Nai và sông Sài Gòn đổ về, tạo thế án ngữ cửa ngõ vào Sài Gòn. Ngoài việc cung cấp nguồn nước, hệ thống sông ngòi của tỉnh còn tạo điều kiện cho giao thông đường thủy, môi trường thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản phát triển và xây dựng hệ thống cảng biển. Về đất đai: Theo phân loại các loại đất ở nước ta, đất đai Bà Rịa – Vũng Tàu được chia làm 9 nhóm, trong đó nhóm đất đỏ bazan có diện tích lớn gần 64.000 ha, bằng 34,3% diện tích tự nhiên toàn tỉnh và chiếm 9,8% quỹ đất đỏ bazan của toàn vùng miền Đông Nam bộ. Đất đỏ bazan rất thích hợp với việc trồng các loại cây công nghiệp dài ngày như cao su, cà phê, tiêu, điều và cây ăn trái.
Vùng thung lũng ven biển thuộc huyện Long Đất, Xuyên Mộc có các loại đất đen pha sỏi, đất bazan, đất cát nhiễm mặn, rất thích hợp cho việc khai thác muối và nuôi trồng thủy sản. Về tài nguyên, khoáng sản của Bà Rịa – Vũng Tàu tuy không phong phú về chủng loại nhưng tập trung và có giá trị kinh tế cao, đặc biệt là dầu mỏ, khí thiên nhiên ở thềm lục địa có trữ lượng lớn. Tổng trữ lượng dầu khí tiềm năng (quy đổi) của Việt Nam vào khoảng 2.500 triệu m 3 (bao gồm: 957 triệu m3 dầu; 1.500 tỷ m3 khí), trong đó tổng trữ lượng dầu khí đã xác minh là 1. Tiềm năng dầu khí là một trong những yếu tố quan trọng, là lợi thế hết sức to lớn của BR- VT so với các địa phương khác.
Ngoài dầu khí, BR-VT còn có nguồn nước khoáng (Bình Châu, Suối Nghệ) có giá trị chữa bệnh, giải khát và xuất khẩu. Cát trắng Bình Châu là nguyên liệu để sản xuất các sản phẩm thủy tinh cao cấp như pha-lê. Các dãy núi đá hoa cương (khu vực Núi Dinh, Thị Vãi, Minh Đạm) là nguyên liệu quan trọng cho phục vụ nhu cầu xây dựng rất lớn của tỉnh. Với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên như trên cho thấy Bà Rịa - Vũng Tàu là đầu cầu quan trọng của vùng động lực, tam giác kinh tế - văn hoá thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hòa và Vũng Tàu.
Tỉnh có nhiều tiềm năng to lớn để phát triển nhanh và toàn 11 diện cả về kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt đối với ngành kinh tế biển như: công nghiệp khai thác và chế biến dầu khí, dịch vụ, cảng biển, du lịch tắm biển, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy hải sản. Đó là lợi thế to lớn của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu so với các tỉnh, thành khác trong cả nước. Đặc điểm dân cư – xã hội Từ thế kỷ XVI-XVII, khi cư dân người Việt đến khai phá vùng đất Bà Rịa đã có các dân tộc bản địa sinh sống như dân tộc Châu Ro, S’tiêng, Khơme,… Bà Rịa trước đó gọi là xứ Mô Xoài, đó là vùng đất đầu tiên mà người Việt vượt biển vào khai phá, lập nghiệp sớm hơn so với những nơi khác ở Nam bộ. Tại nơi đây, những lưu dân người Việt đã dày công khai phá đất đai, xây dựng xóm làng trù phú.
Cùng với quá trình khai phá, những đơn vị hành chính cơ sở của Bà Rịa -Vũng Tàu hình thành. Dân số theo thời gian cũng dần dần tăng lên. Cuối thế kỷ XVIII, vùng Mô Xoài, Bà Rịa đã có gần 60 làng, tập trung trong 7 tổng, số dân lên đến hàng vạn người, trong đó nhiều người các dân tộc thiểu số. Theo thống kê của Pháp, vào năm 1879, dân số của tỉnh Bà Rịa là 38.
Đến ngày 1/1/1900, hạt tham biện Bà Rịa được chính thức đổi thành tỉnh Bà Rịa theo một Nghị định của Toàn quyền Đông Dương chung cho các tỉnh ở Nam Kỳ. Còn thành phố Vũng Tàu gồm có 3 làng: Thắng Nhất, Thắng Nhì, Thắng Tam. Lúc này dân số của tỉnh Bà Rịa là 49. Nếu tính gộp cả thành phố Vũng Tàu (thành phố Cap Saint Jacques năm 1901 (5.690) thì tổng số dân lúc này là 54.
Theo thời gian, dân cư tập trung ở đây ngày càng đông đúc, một phần là nhờ vào nguồn tăng tự nhiên, một phần là nhờ dân cư từ các nơi khác chuyển đến (dân từ các tỉnh miền Bắc, miền Trung, dân di tản trong chiến tranh từ các tỉnh khác về.), nhất là sau ngày miền Nam giải phóng (1975), đặc biệt là từ khi thành lập Đặc khu Vũng Tàu – Côn Đảo (1979) thì lao động tập trung về đây ngày càng nhiều. Đến khi tái lập tỉnh (1991), dân số tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu lúc này là 587. Sau 10 năm (2001), dân số của tỉnh là 841.