Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Đổi mới cơ chế quản lý chi ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học và công nghệ ở Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Phạm Thu Thủy, thuộc chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng (mã số: 9340201) tại Học viện Ngân hàng, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Lê Thị Tuấn Nghĩa và PGS.TS. Đinh Văn Nhã (bảo vệ năm 2018).

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ ba căn cứ thực tiễn và lý luận:

  • Thứ nhất, khoa học và công nghệ (KH&CN) giữ vai trò then chốt trong nền kinh tế tri thức và là yếu tố quyết định giúp các quốc gia đang phát triển như Việt Nam vượt qua "bẫy thu nhập trung bình" để đạt tăng trưởng bền vững.
  • Thứ hai, hiệu suất và hiệu quả chi ngân sách nhà nước (NSNN) cho KH&CN tại Việt Nam giai đoạn vừa qua chưa cao, đầu tư còn dàn trải. Mặc dù chủ trương của Đảng và Nhà nước luôn khẳng định mức chi cho KH&CN không dưới 2% tổng chi NSNN hàng năm, hoạt động KH&CN nhìn chung vẫn còn trầm lắng, chưa thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội theo tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI. Cơ chế quản lý chi NSNN hiện hành còn nhiều rào cản hành chính, chưa khuyến khích mạnh mẽ sự tham gia của khu vực tư nhân.
  • Thứ ba, các công trình nghiên cứu trong nước trước đây thường chỉ tiếp cận đơn lẻ từng khâu hoặc mô tả quy định pháp lý hiện hành, chưa hình thành khung lý thuyết hoàn chỉnh liên kết giữa cơ chế phân bổ và cơ chế sử dụng NSNN cho KH&CN.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là hệ thống hóa cơ sở lý luận và tổng kết kinh nghiệm quốc tế về cơ chế quản lý chi NSNN cho hoạt động KH&CN, từ đó đánh giá thực trạng giai đoạn 2011–2016 và đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế quản lý chi NSNN cho KH&CN tại Việt Nam. Để đạt được mục tiêu này, luận án xác định 03 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Hệ thống hóa, bổ sung và làm rõ những vấn đề lý luận về cơ chế quản lý chi NSNN cho hoạt động KH&CN (khái niệm, cấu thành, nhân tố ảnh hưởng), tổng kết kinh nghiệm quốc tế và xây dựng khung đánh giá áp dụng cho Việt Nam.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế phân bổ và cơ chế sử dụng NSNN cho hoạt động KH&CN tại Việt Nam giai đoạn 2011–2016, chỉ rõ kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp đổi mới cơ chế quản lý chi NSNN cho hoạt động KH&CN ở Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ chế quản lý chi NSNN cho hoạt động KH&CN và thực tiễn thực hiện dưới góc độ quản lý nhà nước.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào hai trụ cột cốt lõi gồm cơ chế phân bổ NSNN cho hoạt động KH&CN và cơ chế sử dụng NSNN đối với hoạt động KH&CN (bao gồm kinh phí thực hiện nhiệm vụ KH&CN và cơ chế tự chủ tài chính tại tổ chức KH&CN công lập).
  • Phạm vi không gian: Hệ thống quản lý tài chính công và các tổ chức KH&CN tại Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp và sơ cấp được thu thập, phân tích chủ yếu trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2016.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án thực hiện tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai nhóm nội dung chính:

Các nghiên cứu quốc tế

  • Về lý thuyết quản lý chi tiêu công (PEM): Allen Schick (1999) trong công trình A Contemporary Approach to Public Expenditure Management đã xác lập 3 mục tiêu cốt lõi của quản lý chi tiêu công hiện đại: kỷ luật tài khóa tổng thể, phân bổ nguồn lực theo mức độ ưu tiên chiến lược và hiệu quả hoạt động tác nghiệp. Hội thảo của Ngân hàng Thế giới và Viện Phát triển Hàn Quốc (WB & KDI, 2004) làm rõ ba trụ cột cải cách: khuôn khổ chi tiêu trung hạn (MTEF), quản lý theo kết quả hoạt động và minh bạch tài khóa. Marc Robinson và Duncan (IMF, 2009) trong A Basic Model of Performance-Based Budgeting phân tích điều kiện tiên quyết khi áp dụng ngân sách theo kết quả tại các nước đang phát triển. Bộ chỉ số PEFA (2016) gồm 32 chỉ số đánh giá độ tin cậy, tính toàn diện, tính minh bạch và kiểm soát thực hiện ngân sách.
  • Về phương thức tài trợ nghiên cứu và phát triển (NC&PT): Các báo cáo của OECD (2003, 2011, 2012) như Funding of Public Research and Development: Trends and Changes, Public sector research funding, Modes of Public Funding of R&D đã phân loại chi tiết hai phương thức phân bổ NSNN: tài trợ theo tổ chức (institutional funding - cấp kinh phí khối/thường xuyên) và tài trợ theo dự án (project funding - cạnh tranh theo đề xuất). Báo cáo của Koen Jonkers và Thomas Zacharewicz (Ủy ban Châu Âu, 2016) đánh giá hệ thống tài trợ dựa trên kết quả hoạt động (performance-based funding) cho các trường đại học tại 35 quốc gia. Các ấn phẩm OECD (2003, 2011) về quản trị tổ chức nghiên cứu công (PRIs) chỉ ra xu hướng tăng cường quyền tự chủ nội bộ đi đôi với việc gắn kết quả đánh giá thực hiện vào ngân sách phân bổ.
Tác giả / Tổ chức Năm Tên công trình tiêu biểu Nội dung cốt lõi trích xuất
Allen Schick 1999 A Contemporary Approach to Public Expenditure Management Khung lý thuyết PEM với 3 trụ cột: kỷ luật tài khóa, hiệu quả phân bổ, hiệu quả hoạt động.
IMF (Robinson & Duncan) 2009 A Basic Model of Performance-Based Budgeting Điều kiện áp dụng ngân sách theo kết quả hoạt động đối với các nhóm quốc gia.
OECD 2003, 2011, 2012 Funding of Public R&D, Modes of Public Funding of R&D Cơ cấu và xu hướng chuyển dịch giữa tài trợ theo tổ chức và tài trợ theo dự án cạnh tranh.
Ủy ban Châu Âu (Jonkers & Zacharewicz) 2016 Research Performance Based Funding Systems Kinh nghiệm tài trợ theo kết quả đầu ra nghiên cứu tại các trường đại học thuộc EU.
Đặng Duy Thịnh 2009 Đề tài cấp Bộ về đổi mới cơ chế chính sách tài chính cho KH&CN Khảo sát quy định Luật NSNN 2002, định mức chi tiêu theo TTLT 44/2007 và cơ chế theo NĐ 115/2005.
Trần Văn Tùng 2016 Luận án tiến sĩ về cơ chế tự chủ tài chính tổ chức KH&CN Phân tích cơ chế tự chủ tài chính theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP theo khung đầu vào - hoạt động - đầu ra.
Hồ Thị Hải Yến và cộng sự 2017 Đề tài cấp Bộ về phân bổ, quản lý kinh phí nhiệm vụ KH&CN Đánh giá phân bổ kinh phí nhiệm vụ KH&CN tại các cơ sở giáo dục đại học trực thuộc Bộ GD&ĐT.

Các nghiên cứu trong nước

  • Hồ Thị Hải Yến (2008) nghiên cứu cơ chế tài chính trong các trường đại học nhưng chưa bao quát hệ thống viện nghiên cứu ngoài trường.
  • Đặng Duy Thịnh (2009) rà soát hệ thống văn bản pháp luật hiện hành (Luật NSNN 2002, Thông tư liên tịch 44/2007/TTLT-BTC-BKHCN, Nghị định 115/2005/NĐ-CP), khảo sát định mức chi tiêu ở một số nước nhưng chưa xây dựng khung lý thuyết đánh giá hoàn chỉnh.
  • Nguyễn Thị Minh Nga (2011) và Trần Văn Tùng (2016) tập trung vào khía cạnh chuyển đổi tổ chức và tự chủ tài chính theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP và Nghị định 96/2010/NĐ-CP, chưa cập nhật bối cảnh văn bản pháp luật mới.
  • Nguyễn Trường Giang và cộng sự (2016), Hồ Thị Hải Yến và cộng sự (2017) khảo sát phân bổ kinh phí nhiệm vụ KH&CN giai đoạn 2011–2015 và trong phạm vi hẹp thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Khoảng trống nghiên cứu

Các công trình trong nước chưa xây dựng được cơ sở lý luận hệ thống về mối liên kết hữu cơ giữa cơ chế phân bổ và cơ chế sử dụng NSNN cho KH&CN; thiếu khung tiêu chí định lượng và định tính dựa trên lý thuyết quản lý chi tiêu công hiện đại để đánh giá thực trạng tại Việt Nam; chưa kịp thời phân tích, đánh giá tác động thực tế của các văn bản pháp luật mới ban hành như Luật NSNN 2015, Luật KH&CN 2013, Nghị định 54/2016/NĐ-CP, Thông tư liên tịch số 55/2015/TTLT-BTC-BKHCN và Thông tư liên tịch số 27/2015/TTLT-BKHCN-BTC.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Lý thuyết thất bại của thị trường (Market Failure): Do tính chất hàng hóa công cộng thuần túy của nghiên cứu cơ bản (không có tính cạnh tranh và không có tính loại trừ, không được bảo hộ sáng chế thương mại độc quyền), khu vực tư nhân thường đầu tư dưới mức tối ưu xã hội. Luận án sử dụng mô hình khoảng cách giữa suất lợi tức tư nhân và suất lợi tức xã hội của Albert N. Scott (2005), kế thừa từ Tassey (1997) và Jaffe (1998), chỉ ra độ hẫng hụt về hiệu ứng lan tỏa (spillover gap) đòi hỏi Nhà nước phải can thiệp bằng nguồn vốn công.
  • Lý thuyết tăng trưởng và hạch toán kinh tế: Mô hình tăng trưởng Solow (1957) với hàm sản xuất Cobb-Douglas dạng $Y = A K^{\alpha} L^{1-\alpha}$ và phương trình phân rã tăng trưởng $g_y = g_A + \alpha g_k + (1-\alpha) g_l$, trong đó $g_A$ biểu thị tốc độ tăng năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) - thước đo đóng góp của tiến bộ KH&CN vào tăng trưởng dài hạn.
  • Khung khái niệm hiệu suất và hiệu quả chi NSNN cho NC&PT (Ủy ban Châu Âu, 2009): Đánh giá mối quan hệ chuỗi giữa Đầu vào (chi tiêu NSNN, đòn bẩy thu hút đầu tư tư nhân) $\rightarrow$ Đầu ra (bài báo khoa học, bằng sáng chế, quy trình công nghệ mới) $\rightarrow$ Kết quả tác động (tăng TFP, năng lực cạnh tranh, sản lượng và kim ngạch xuất khẩu).
[Đầu vào: Chi tiêu NSNN & Đầu tư tư nhân] 
[Đầu ra: Bài báo KH, Bằng sáng chế, Quy trình/Sản phẩm mới] 
[Kết quả/Tác động: Gia tăng TFP, Năng lực cạnh tranh, Tăng trưởng kinh tế]

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp thống kê mô tả:

  • Phương pháp nghiên cứu định tính: Hệ thống hóa tài liệu, phân tích văn bản pháp quy, so sánh quốc tế và diễn giải logic. Tác giả thực hiện phỏng vấn sâu và tổ chức tọa đàm với các nhà quản lý tại Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cùng lãnh đạo và cán bộ kế toán tại các tổ chức KH&CN công lập.
  • Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu:
    • Dữ liệu thứ cấp: Các số liệu thống kê công khai từ báo cáo quyết toán NSNN của Bộ Tài chính, báo cáo ngành của Bộ KH&CN, số liệu Niên giám thống kê, cơ sở dữ liệu quốc tế của OECD, World Bank giai đoạn 2011–2016.
    • Dữ liệu sơ cấp: Khảo sát thực tế bằng phiếu hỏi đối với cán bộ nghiên cứu, viên chức khoa học tại các viện nghiên cứu thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Bộ Y tế, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Nội vụ. Dữ liệu khảo sát được tổng hợp và phân tích thống kê mô tả bằng phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về cơ chế quản lý chi ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học và công nghệ

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm, đặc điểm vận hành của hoạt động KH&CN và xác lập khung phân tích quản lý tài chính công đối với lĩnh vực này:

  • Đặc thù của hoạt động KH&CN: Lao động mang tính sáng tạo trí tuệ cao, thời gian làm việc không cố định theo giờ hành chính; năng suất nghiên cứu phân bổ lệch theo định luật Alfred Lotka (1926) với công thức $n(x) = \frac{n(1)}{x^2}$ (số lượng nhà khoa học công bố $x$ công trình tỷ lệ nghịch với bình phương số công trình, khẳng định tài năng khoa học là nguồn lực khan hiếm); tính rủi ro cao với xác suất thành công giảm dần theo loại hình nghiên cứu (nghiên cứu cơ bản có tỷ lệ thành công dưới 5%, nghiên cứu ứng dụng từ 50–60%, phát triển thực nghiệm đạt 80–90%); độ trễ lớn trong ứng dụng thực tiễn và tính phi kinh tế trực tiếp ở các giai đoạn đầu.
  • Phân loại chi NSNN cho KH&CN: Theo nội dung kinh tế GFS (chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên/sự nghiệp); theo chức năng chính phủ COFOG; theo chỉ tiêu thống kê quốc tế GBAORD (Government budget appropriations or outlays for R&D).
  • Phương thức phân bổ ngân sách: Phân định rành mạch giữa tài trợ theo tổ chức (institutional funding - cấp kinh phí hoạt động thường xuyên ổn định) và tài trợ theo dự án (project funding - tài trợ thông qua xét chọn cạnh tranh, các quỹ phát triển KH&CN như NSF tại Mỹ, NAFOSTED tại Việt Nam).
  • Kinh nghiệm quốc tế: Luận án phân tích mô hình quản lý chi ngân sách KH&CN tại Hàn Quốc và Hoa Kỳ, rút ra bài học về việc kết hợp linh hoạt hai phương thức phân bổ, áp dụng cơ chế khoán kinh phí đến sản phẩm cuối cùng và thành lập các hội đồng chuyên môn độc lập đánh giá đồng đẳng.
Loại hình hoạt động NC&PT Mục tiêu chính Tỷ lệ thành công trung bình Phương thức phân bổ NSNN phù hợp
Nghiên cứu cơ bản Tạo tri thức nền tảng mới, không nhằm mục đích thương mại trước mắt Dưới 5% Chủ yếu tài trợ theo tổ chức và tài trợ qua quỹ KH&CN
Nghiên cứu ứng dụng Tạo kiến thức mới phục vụ mục tiêu thực tế cụ thể 50% – 60% Kết hợp tài trợ theo dự án cạnh tranh và đặt hàng
Phát triển thực nghiệm Sử dụng kết quả nghiên cứu tạo sản phẩm, quy trình thử nghiệm 80% – 90% Tài trợ theo dự án có đối ứng từ doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng cơ chế quản lý chi ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học và công nghệ ở Việt Nam

Chương 2 tập trung phân tích thực trạng quản lý chi NSNN cho KH&CN giai đoạn 2011–2016 dựa trên các dữ liệu thứ cấp và khảo sát thực tế:

  • Thực trạng năng lực KH&CN và đầu tư: Luận án phản ánh chỉ số TFP đóng góp vào tăng trưởng GDP, số lượng công bố quốc tế, số bằng độc quyền sáng chế và giải pháp hữu ích được cấp tại Việt Nam. Nguồn đầu tư của toàn xã hội cho NC&PT/GDP còn ở mức thấp so với khu vực; NSNN vẫn giữ vai trò chủ đạo, chiếm tỷ trọng vượt trội so với đóng góp từ khu vực doanh nghiệp tư nhân.
  • Thực trạng phân bổ ngân sách: Phân tích cơ cấu phân bổ giữa ngân sách trung ương (NSTW) và ngân sách địa phương (NSĐP); tỷ lệ giữa chi sự nghiệp KH&CN và chi đầu tư phát triển cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm (Bảng 2.7, 2.9, 2.10). Quy trình lập, xét duyệt dự toán nhiệm vụ KH&CN còn nặng tính hành chính, phê duyệt kéo dài, chưa dựa trên các chỉ tiêu đánh giá kết quả đầu ra định lượng.
  • Thực trạng sử dụng ngân sách và cơ chế tự chủ: Đánh giá việc triển khai cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm tại các tổ chức KH&CN công lập theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP và quá trình chuyển đổi sang Nghị định 54/2016/NĐ-CP. Thực tế triển khai cơ chế khoán kinh phí nhiệm vụ KH&CN theo Thông tư liên tịch 27/2015/TTLT-BKHCN-BTC còn gặp vướng mắc ở các thủ tục chứng từ thanh quyết toán theo khoản mục chi đầu vào.
  • Đánh giá chung:
    • Kết quả: Đã thiết lập được hành lang pháp lý đồng bộ hơn (Luật KH&CN 2013, Luật NSNN 2015), bước đầu hình thành Quỹ NAFOSTED áp dụng chuẩn mực đánh giá khoa học tiến bộ.
    • Hạn chế: Phân bổ vốn còn phân tán, cào bằng giữa các bộ, ngành và địa phương; hiệu quả giải ngân thấp; cơ chế tự chủ tài chính chưa tạo đủ động lực để các viện nghiên cứu tăng nguồn thu dịch vụ ngoài ngân sách (Bảng 2.11, 2.12, 2.13).
    • Nguyên nhân: Do sự thiếu đồng bộ giữa các văn bản quy phạm pháp luật tài chính và KH&CN; tư duy quản lý hành chính sự nghiệp áp đặt lên lao động sáng tạo đặc thù; thiếu hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về chuyên gia và kết quả nghiên cứu.

Chương 3: Đổi mới cơ chế quản lý chi ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học và công nghệ ở Việt Nam

Trên cơ sở nhận diện hạn chế, Chương 3 đề xuất định hướng và các giải pháp đồng bộ:

  • Định hướng và quan điểm đổi mới: Đổi mới phải quán triệt nguyên tắc quản lý chi tiêu công hiện đại (PEM), gắn kết chính sách và ngân sách trung hạn (MTEF), đồng thời tôn trọng đầy đủ các đặc thù của hoạt động sáng tạo khoa học, chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu.
  • Nhóm giải pháp về cơ chế phân bổ NSNN:
    • Chuyển dần từ phương thức phân bổ dự toán theo yếu tố đầu vào bình quân sang phân bổ ngân sách dựa trên kết quả hoạt động (performance-based funding) đối với các tổ chức KH&CN công lập.
    • Tăng tỷ trọng phân bổ vốn theo dự án cạnh tranh thông qua các quỹ tài trợ KH&CN quốc gia (NAFOSTED, NATIF); giảm tỷ lệ giao nhiệm vụ hành chính trực tiếp.
    • Tái cấu trúc tỷ trọng phân bổ vốn giữa NSTW và NSĐP, khắc phục tình trạng phân tán nguồn lực ở cấp địa phương.
  • Nhóm giải pháp về cơ chế sử dụng NSNN:
    • Thực hiện khoán chi thực chất đến sản phẩm cuối cùng đối với các nhiệm vụ KH&CN có sử dụng NSNN, xóa bỏ thủ tục kiểm soát chứng từ đầu vào đối với các khoản chi thù lao nghiên cứu và khảo nghiệm.
    • Đẩy mạnh quyền tự chủ tài chính thực chất cho các tổ chức KH&CN công lập theo Nghị định 54/2016/NĐ-CP, cho phép các đơn vị chủ động trích lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp và phân phối thu nhập tăng thêm theo hiệu quả công việc.
    • Tháo gỡ rào cản pháp lý về định giá tài sản trí tuệ và cơ chế trích thưởng thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học.
  • Nhóm các giải pháp bổ trợ: Hoàn thiện hệ thống kiểm toán, giám sát chi tiêu công độc lập; thiết lập mô hình liên kết chính sách - ngân sách trung hạn trong lập kế hoạch KH&CN.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án đã hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về cơ chế quản lý chi NSNN cho hoạt động KH&CN, phân định rành mạch hai cấu phần chính là cơ chế phân bổ và cơ chế sử dụng NSNN.
  • Xây dựng Khung đánh giá cơ chế quản lý chi NSNN cho hoạt động KH&CN phù hợp với điều kiện thể chế tại Việt Nam, tích hợp các tiêu chí của quản lý chi tiêu công hiện đại (kỷ luật tài khóa, hiệu quả phân bổ, hiệu quả hoạt động) với các thông lệ quốc tế của khối OECD.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện về thực trạng phân bổ và sử dụng chi NSNN cho KH&CN tại Việt Nam giai đoạn 2011–2016, lượng hóa cơ cấu chi giữa trung ương - địa phương, chi sự nghiệp - chi đầu tư phát triển.
  • Nhận diện các điểm nghẽn trong triển khai cơ chế tự chủ tài chính tại các viện nghiên cứu và sự bất cập của cơ chế thanh quyết toán theo định mức đầu vào.
  • Đề xuất hệ thống 3 nhóm giải pháp đồng bộ (nhóm giải pháp phân bổ, nhóm giải pháp sử dụng và nhóm giải pháp hỗ trợ) nhằm nâng cao hiệu suất và hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính công cho KH&CN tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án: Dữ liệu thứ cấp và số liệu khảo sát định lượng chủ yếu tập trung trong giai đoạn 2011–2016; cỡ mẫu khảo sát sơ cấp tập trung tại khối viện nghiên cứu trực thuộc một số bộ ngành trung ương và Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, chưa bao quát toàn diện các tổ chức KH&CN tại tất cả các địa phương.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục theo dõi, đánh giá định lượng tác động dài hạn của Luật NSNN 2015, Luật Đầu tư công và Nghị định 54/2016/NĐ-CP sau khi các văn bản này đi vào thực thi đầy đủ trong giai đoạn sau năm 2016; mở rộng nghiên cứu sang mô hình quỹ đầu tư mạo hiểm công lập hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị đối với nhiều đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Bộ KH&CN, Bộ Kế hoạch và Đầu tư): Sử dụng làm luận cứ thực tiễn trong việc rà soát, sửa đổi các thông tư hướng dẫn định mức chi tiêu, xây dựng dự toán và hoàn thiện cơ chế khoán kinh phí nghiên cứu khoa học.
  • Lãnh đạo các viện nghiên cứu, trường đại học: Tham khảo khung phân tích tự chủ tài chính, cơ cấu nguồn thu và phân phối kết quả tài chính nhằm nâng cao hiệu quả quản trị nội bộ.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Quản lý kinh tế và Chính sách công: Tiếp cận hệ thống lý thuyết về quản lý chi tiêu công (PEM, MTEF), phương pháp đo lường TFP và kinh nghiệm phân bổ ngân sách NC&PT của các quốc gia trên thế giới.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ phân bổ chi ngân sách nhà nước cho hoạt động KH&CN tại Việt Nam được quy định như thế nào trong các chủ trương chính sách?
Chiến lược phát triển Khoa học và Công nghệ 2010–2020 cùng các Nghị quyết Trung ương xác định mức bố trí chi ngân sách nhà nước dành cho KH&CN hàng năm không dưới 2% tổng chi NSNN.

2. Cơ sở kinh tế học nào chứng minh Nhà nước bắt buộc phải đầu tư ngân sách cho nghiên cứu cơ bản?
Nghiên cứu cơ bản tạo ra hàng hóa công cộng thuần túy (không có tính cạnh tranh, không có tính loại trừ, không thể đăng ký bằng sáng chế độc quyền thương mại). Suất lợi tức tư nhân thấp hơn suất lợi tức xã hội do xuất hiện khoảng cách lan tỏa (spillover gap), dẫn đến thất bại thị trường khi khu vực tư nhân không có động lực đầu tư, đòi hỏi Nhà nước phải tài trợ bằng ngân sách.

3. Theo thống kê quốc tế được luận án trích dẫn, xác suất thành công trung bình của các loại hình nghiên cứu KH&CN là bao nhiêu?
Xác suất thành công trung bình ở nghiên cứu cơ bản là dưới 5%; ở nghiên cứu ứng dụng là từ 50% đến 60%; ở phát triển thực nghiệm (sản xuất thử nghiệm) đạt từ 80% đến 90%.

4. Hai phương thức phân bổ ngân sách nhà nước cho NC&PT theo thông lệ OECD là gì?
Gồm hai phương thức: (1) Tài trợ theo tổ chức (institutional funding) - khoản trợ cấp trọn gói phân bổ trực tiếp cho các nghiên cứu thường xuyên của tổ chức; (2) Tài trợ theo dự án (project funding) - cấp ngân sách cho các đề xuất nghiên cứu thông qua cơ chế xét duyệt cạnh tranh.

5. Luận án sử dụng chỉ tiêu nào để lượng hóa đóng góp của khoa học và công nghệ vào tăng trưởng kinh tế?
Luận án sử dụng chỉ tiêu Năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP - Total Factor Productivity), được xác định dựa trên phương pháp hạch toán tăng trưởng từ hàm sản xuất Cobb-Douglas của Robert Solow (1957).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Thu Thủy đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về cơ chế quản lý chi NSNN cho hoạt động KH&CN dựa trên lý thuyết quản lý chi tiêu công hiện đại và lý thuyết thất bại thị trường. Công trình đã phân tích sâu sắc bức tranh thực trạng phân bổ và sử dụng ngân sách KH&CN tại Việt Nam giai đoạn 2011–2016, chỉ rõ nguyên nhân của tình trạng đầu tư dàn trải và vướng mắc trong cơ chế thanh quyết toán. Hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ, chú trọng chuyển đổi sang phương thức tài trợ theo kết quả đầu ra, khoán chi thực chất và nâng cao quyền tự chủ tài chính cho các tổ chức KH&CN công lập.