Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO 1. Khái niệm về Lãnh đạo và Phong cách lãnh đạo 1. Khái niệm Lãnh đạo Trải qua rất nhiều năm, lãnh đạo đã được nghiên cứu một cách rộng rãi trong nhiều bối cảnh và những nền tảng lý luận khác nhau (Horner, 1997), có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về lãnh đạo, dưới đây là một số định nghĩa về lãnh đạo: Lãnh đạo là “cách cư xử của một cá nhân khi anh ta chỉ đạo các hoạt động của nhóm để đạt được mục tiêu chung đã đặt ra” (Hemphill và Coons, 1957, trích trong Nguyễn Hữu Lam, 2007).
Lãnh đạo là “nghệ thuật làm ảnh hưởng tối đa đến hiệu suất làm việc của người khác qua đó họ đạt được bất kỳ nhiệm vụ, mục tiêu hoặc dự án nào” (Cohen, 1990) Theo Trần Thị Thu Trang (2006), “Lãnh đạo là một quá trình gây ảnh hưởng đến các hoạt động của một cá nhân hay một nhóm nhằm đạt được mục đích trong tình huống nhất định”. Có thể tóm tắt các định nghĩa về lãnh đạo như sau: Là những hành vi, tác động và ảnh hưởng của người lãnh đạo đến một cá nhân, một nhóm người hoặc một tổ chức nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức hoặc của người lãnh đạo. Khi đề cập đến vấn đề “lãnh đạo”, trong đó đã bao gồm một người hoặc một nhóm người được xem như “người lãnh đạo” và các cá nhân chịu tác động của người lãnh đạo, hay còn gọi là các “cộng sự”. Theo cách tiếp cận của Trần Thị Thu Trang (2006) thì “nhà lãnh đạo cũng chịu ảnh hưởng của các cộng sự khi cùng làm việc để đạt được mục tiêu chung”.
Hiệu quả của lãnh đạo được thể hiện ở các góc độ sau: (1) tổ chức có đạt được mục tiêu hay không?; (2) thái độ của nhân viên trong tổ chức với người lãnh đạo như thế nào?; (3) Sự phát triển của nhóm hay tổ chức như thế nào?; (4) thành công hay thất bại của người lãnh đạo? Cuối cùng quá trình lãnh đạo sẽ quyết định tổ chức đó thành công hay thất bại; quyết định sự phát triển hay không của cá nhân hoặc 123doc Luận văn tốt nghiệp 8 nhóm và cuối cùng quyết định cá nhân người lãnh đạo là người lãnh đạo thành công hay thất bại. Khái niệm về Phong cách lãnh đạo Nguyễn Hữu Lam (2007) định nghĩa về phong cách lãnh đạo như sau: “phong cách lãnh đạo của một cá nhân là dạng hành vi người đó thể hiện khi thực hiện các nỗ lực ảnh hưởng tới hoạt động của những người khác theo nhận thức của đối tượng”. Theo đó, cần chú ý rằng phong cách lãnh đạo là sự nhận thức của người khác với tư cách là đối tượng của sự lãnh đạo về nhà lãnh đạo chứ không phải sự tự nhận thức của chính nhà lãnh đạo. Một định nghĩa khác: “Phong cách lãnh đạo là những mô hình hoặc cách mà người lãnh đạo thường sử dụng để gây ảnh hưởng đến người cấp dưới trong quá trình thúc đẩy họ thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức” (Lê Thanh Hà, trích trong Trần Thị Thu Trang, 2006).
Đã có nhiều nghiên cứu khác nhau về phong cách lãnh đạo với các cách tiếp cận khác nhau, tùy theo mục tiêu nghiên cứu. Chính vì vậy, rất nhiều phong cách lãnh đạo đã được xác định. Dưới đây là một số nghiên cứu về phong cách lãnh đạo đã được Nguyễn Hữu Lam (2007) đề cập đến: (i) Nghiên cứu của Kurt Lewin: đã tiến hành thực nghiệm so sánh 3 loại phong cách: độc đoán, dân chủ, tự do - Phong cách độc đoán: quyền lực tập trung trong tay người lãnh đạo. Các quyết định, mệnh lệnh được đề ra trên cơ sở kiến thức, kinh nghiệm của người lãnh đạo, không quan tâm tới ý kiến của những người dưới quyền.
Ưu điểm của phong cách độc đoán là giải quyết nhanh chóng các nhiệm vụ; nhược điểm là không tận dụng được sáng tạo, kinh nghiệm của người dưới quyền. - Phong cách dân chủ: bản thân người lãnh đạo chỉ giải quyết những vấn đề lớn, quan trọng, những vấn đề còn lại giao cho cấp dưới. Công việc được phân công, giải quyết trên cơ sở có sự tham gia của tập thể. Ưu điểm: khai thác được những sáng kiến của tập thể; nhược điểm: tốn kém thời gian.
123doc Luận văn tốt nghiệp 9 - Phong cách tự do: người lãnh đạo ít tham gia vào công việc của nhóm, giao hết quyền hạn và trách nhiệm cho mọi người. Ưu điểm: phát huy tối đa năng lực của mọi người; nhược điểm: phong cách này dễ dẫn đến tifnht rạng hỗn loạn, vô chính phủ. (ii) Mô hình của trường đại học bang Ohio: dựa trên 2 nhóm hành vi: “quan tâm đến công việc” và “quan tâm đến con người” hình thành nên 4 dạng phong cách lãnh đạo khác nhau - Quan tâm đến công việc thấp và con người thấp: người lãnh đạo đóng vai trò thụ động và để mặc tình thế diễn ra. - Quan tâm đến công việc cao và con người thấp: người lãnh đạo chủ yếu hướng tới việc hoàn thành công việc, ít quan tâm đến con người.
- Quan tâm đến công việc thấp và con người cao: người lãnh đạo theo đuổi việc thỏa mãn các nhu cầu xã hội của người dưới quyền. - Quan tâm đến công việc cao và con người cao: người lãnh đạo theo đuổi sự cân đối trong việc làm cho công việc được thực hiện và duy trì sự đoàn kết, gắn bó của tổ chức. (iii) Nghiên cứu của trường đại học Michigan: làm rõ 2 khái niệm: - Nhà lãnh đạo có định hướng quan hệ: nhấn mạnh đến sự quan tâm của nhà lãnh đạo đến nhân viên và các mối quan hệ trong công việc. - Nhà lãnh đạo có định hướng nhiệm vụ: nhấn mạnh sự quan tâm của nhà lãnh đạo đến công việc, đến sản xuất.
Nhân viên chỉ là công cụ để đạt được kết quả trong công việc (iv) Lý thuyết của Bass về người lãnh đạo mới về chất: Bass và cộng sự (1992) phân chia phong cách lãnh đạo thành: Phong cách lãnh đạo nghiệp vụ, Phong cách lãnh đạo mới về chất và Phong cách lãnh đạo tự do. - Phong cách lãnh đạo nghiệp vụ: nhấn mạnh sự trao đổi diễn ra giữa nhà lãnh đạo, đồng nghiệp và cấp dưới. Việc trao đổi này dựa trên thỏa thuận giữa nhà lãnh đạo với những người khác về việc nhà lãnh đạo muốn gì và phần thưởng, điều kiện cho người hoàn thành công việc là gì (Bass và Riggio, 2006). Lãnh đạo nghiệp vụ 123doc Luận văn tốt nghiệp 10 nói đến vị trí uy quyền của nhà lãnh đạo để dùng những người dưới quyền sao cho hoàn tất được các nhiệm vụ.
Những nhà lãnh đạo nghiệp vụ làm việc hướng đến việc nhận thức những vai trò và những nhiệm vụ cần yêu cầu đối với nhân viên nhằm đạt được mục đích mong muốn, họ cũng làm rõ những yêu cầu này với nhân viên, từ đó thúc đẩy nhân viên có những nỗ lực cần thiết. Những nhà lãnh đạo nghiệp vụ cũng nhận thức điều gì nhân viên muốn và khao khát, xác định bằng cách nào những nhu cầu và khao khát này sẽ được thỏa mãn, nếu nhân viên nỗ lực cho nhiệm vụ (Avolio và Bass, 2004). - Phong cách lãnh đạo mới về chất: Phong cách lãnh đạo mới về chất ở một vài khía cạnh nào đó là sự phát triển rộng hơn của phong cách lãnh đạo nghiệp vụ. Theo Bass (1985), nhà lãnh đạo mới về chất là những người tìm kiếm những cách thức nhằm giúp tạo động lực cho những người cấp dưới bằng cách thỏa mãn những nhu cầu cấp cao và tăng cường hơn sự tham gia của cấp dưới vào trong tiến trình của công việc.
Nhà lãnh đạo mới về chất có khả năng khuyến khích cấp dưới hoàn thành công việc tốt hơn kế hoạch đặt ra. Nhà lãnh đạo mới về chất đặt ra nhiều thử thách trong công việc và đặc trưng là họ thường đạt được những kết quả cao. Nhà lãnh đạo theo phong cách lãnh đạo mới về chất bao gồm việc truyền cảm hứng cho cấp dưới về viễn cảnh và mục tiêu của tổ chức, đưa ra thử thách để họ giải quyết vấn đề theo những hướng mới, và đánh thức khả năng của cấp dưới thông qua việc huấn luyện, đào tạo và cung cấp cả sự thử thách và sự hỗ trợ (Bass và Riggio, 2006). - Phong cách lãnh đạo tự do: đây là phong cách lãnh đạo thụ động, tránh trách nhiệm, lãnh đạo có khi được xem như không lãnh đạo.
Có thể nói, trong một người lãnh đạo có thể tồn tại nhiều phong cách lãnh đạo khác nhau, tùy theo tình huống, tùy theo hoàn cảnh và tùy theo công việc. Không thể nói là phong cách lãnh đạo nào là ưu việt nhất. Tuy nhiên, phong cách lãnh đạo mới về chất đang bắt đầu nhận được sự quan tâm to lớn từ cuối những năm 1980 đến nay. Chính vì vây, trong phạm vi bài luận văn này, dựa trên nền tảng lý thuyết 123doc Luận văn tốt nghiệp 11 của Avolio và Bass (2004) chọn cách tiếp cận phong cách người lãnh đạo mới về chất để nghiên cứu.
Đo lường Phong cách lãnh đạo mới về chất: Phong cách lãnh đạo mới về chất được biểu hiện thông qua các yếu tố sau: (1) ảnh hưởng lý tưởng hóa (Idealized Influence – II): nhà lãnh đạo theo phong cách mới về chất được khâm phục, tôn trọng và tin tưởng. Nhà lãnh đạo theo phong cách mới về chất được cấp dưới xem như hình mẫu và muốn phấn đấu để đạt được như nhà lãnh đạo của họ. Trong những cách mà nhà lãnh đạo làm để gia tăng tín nhiệm từ người khác là đặt nhu cầu, lợi ích của cấp dưới lên trên nhu cầu cá nhân. Nhà lãnh đạo chia sẽ rủi ro với cấp dưới và luôn hành động dựa trên đạo đức, nguyên lý và giá trị cơ bản.
Ảnh hưởng lý tưởng hóa bao gồm: Thuộc tính lý tưởng hóa (Idealized Attributes – IA)– sự khâm phục, ngưỡng mộ nhà lãnh đạo; Hành vi lý tưởng hóa (Idealized Behaviors – IB)– nhân viên phấn đấu theo nhà lãnh đạo; (Bass và Avolio, 2004) (2) truyền cảm hứng (Inspirational Motivation – IM): nhà lãnh đạo theo phong cách mới về chất hành xử theo cách có thể truyền cảm hứng cho những người chung quanh bằng cách đưa ra cho họ những nhiệm vụ và những hỗ trợ cho việc hoàn thành công việc của họ. Tinh thần cá nhân và tập thể được đánh thức. Nhà lãnh đạo mới về chất luôn thể hiện sự lạc quan và nhiệt tình. Nhà lãnh đạo động viên nhân viên để họ có thể hình dung ra một giai đoạn tươi sáng của tổ chức, thông qua đó hình dung ra tương lai tươi sáng của họ (Bass và Avolio, 2004).