lời mở đầu Chƣơng 2: Tổng quan về sự hài lòng trong môi trƣờng làm việc; Chƣơng 3: Thực trạng các nhân tố ảnh hƣởng tới sự hài lòng trong công việc tại Công ty TNHH MTV Trí Danh Kiên Giang; Chƣơng 4: Hàm ý quản trị về sự hài lòng của nhân viên tại Công ty TNHH MTV Trí Danh Kiên Giang. Chƣơng 5: Kết luận 6 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ SỰ HÀI LÕNG TRONG MÔI TRƢỜNG LÀM VIỆC 2. Tổng quan về Lý thuyết nghiên cứu về sự hài lòng 2. Khái niệm Trong tiếng Anh, sự hài lòng đối với công việc là (JS-Job Satisfaction).
Sự hài lòng trong công việc của ngƣời lao động hoặc sự hài lòng của ngƣời lao động là mức đo độ hài lòng của công việc trong ngƣời lao động. Trong lãnh vực nhân sự, khi ngƣời lao động hoàn toàn vui vẻ về vị trí và công việc của mình gọi là hài lòng trong lao động. Cụ thể, tất cả nguồn lực xung quanh đƣa đến để làm thành công việc - thấy những nhà quản lý là quan tâm và biết công bằng, ngƣời lao động thoả mãn với phần khá lớn công việc của mình, trong môi trƣờng làm việc thấy tự nhiên, thoải mái và cả đồng nghiệp xung quanh mình cũng thấy hoà hợp, vui vẻ. Tại thế giới nói chung và nói riêng đến Việt Nam, trên mặt bằng nghiên cứu, đã có nhiều bài nghiên cứu nhân tố ảnh hƣởng đến môi trƣờng làm việc và chạy hệ thống thống kê cho ra sự hài lòng.
Thông qua những kết quả chạy phần mềm, kết quả nhân tố hài lòng trong công việc quan tâm cả đến những ngƣời lao động trong tổ chức và cả ngƣời nghiên cứu đề tài ấy. Các yếu tố của tổ chức liên quan chặt chẽ với việc thoả mãn của nhân viên trong công ty chẳng hạn nhƣ: hiệu quả, thái độ, động lực, lãnh đạo, đạo đức, xung đột,… Thông qua các bài khảo sát nghiên cứu của những nhà làm công trình khoa học, nhà nghiên cứu có những nhận định riêng đánh giá những yếu tố liên quan với nhau trong công việc của ngƣời lao động ở công ty, quyết định nhân tố ảnh hƣởng, đánh giá các yếu tố có liên quan qua lại và độ chính xác áp dụng tại công ty dựa trên hiệu quả cho ra năng suất lao động. Hoppock (1935) nhận định rằng định nghĩa hài lòng là một sự tổng hợp hài hoà thoả mãn về sinh lý, tâm lý và cả những yếu tố bên ngoài làm cho ngƣời lao động hài lòng về môi trƣờng làm việc của họ. Nhƣng trong nhận định của Vroom 7 (1964) ông nói rằng sự hài lòng là thái độ của ngƣời lao động thích thú với công ty và họ có một định hƣớng công việc hiệu quả rõ ràng trong tổ chức.
Theo Kendal, Hulin và Smith (1969), thái độ ghi nhận và ảnh hƣởng của nhân viên về các khía cạnh, bề mặt công việc là các thang đo độ hài lòng các vấn đề khác nhau trong công ty. Nhƣ Spector (1997) thì nhận xét rằng, hài lòng là trạng thái yêu thích các khía cạnh công việc nói riêng và tổng quan công việc nói chung. Còn Logsdon và Ellickson (2001), sự hài lòng của nhân viên là thái độ (tích cực hay tiêu cực) của họ trong sự yêu thích công việc của họ. Nói khác hơn, công việc càng đáp ứng các nhu cầu, tính cách và giá trị của ngƣời làm việc thì sự hài lòng càng cao.
Theo khi đó, Kreitner và Kinicki (2007) chỉ đơn giản đƣa ra rằng sự yêu thích cá nhân đối với công việc của mình là sự hài lòng về môi trƣờng làm việc. Trong nhận định của Smith (1983) hài lòng trong công ty chỉ là cảm nhận của ngƣời làm việc về môi trƣờng làm việc của họ. Lee và Chang (2007) cho rằng một khái niệm hài lòng trong công việc khi họ thấy mục tiêu và định hƣớng tiêu chuẩn rõ ràng. Hussami (2008) còn cho thêm rằng sự hài lòng còn ở mức độ hợp lý công việc đƣợc nhậm ngoài bản chất công việc ra.
Nhƣ vậy, qua một số định nghĩa khác nhau về sự hài lòng cho thấy rằng sự hài lòng đối với môi trƣờng là thể hiện thái độ tình cảm đối với công việc của họ hoặc là tích cực hoặc là tiêu cực trong môi trƣờng làm việc của mình. Sự hài lòng tích cực sẽ giúp nhân viên có động cơ tốt, tinh thần làm việc tích cực từ đó nâng cao năng suất, hiệu quả và chất lƣợng công việc mà họ đang tham gia tại doanh nghiệp 2. Nội dung Hài lòng về môi trƣờng làm việc là một cảm giác hài hoà giữa trong và ngoài, có sự kết hợp cân đối giữa trong và ngoài gây đƣợc hiệu quả tốt đẹp cao, ngƣời trong môi trƣờng làm việc cảm thấy vừa ý, vì đạt tiêu chuẩn của trong và ngoài nhằm hƣớng tới mục tiêu hài lòng xã hội. Vai trò của hài lòng đối với doanh nghiệp và ngƣời lao động Mỗi ngày sự hài lòng của công việc trong nhân viên lại chiếm vai trò quyết định trong việc thay đổi thái độ của ngƣời lao động giữa nhận xét tốt hoặc xấu với 8 doanh nghiệp và giúp giữ chân ngƣời lao động.
Từ đầu thập niên 1970, các nhà nghiên cứu đã nhận định ra mức độ quan trọng của lý thuyết về sự hài lòng đối với doanh nghiệp này và đã tiến hành nghiên cứu. Nhƣng bên cạnh đó, đến bây giờ chƣa có một nghiên cứu khoa học nào chỉ ra sự hài lòng ở lý thuyết mang theo nhiều khía cạnh khác nhau. Nhƣ theo Hofmans at al. (2013) chỉ ra rằng có hai loại cá thể có mối liên hệ hài lòng của công việc đƣợc phân biệt ra.
Các cá nhân đối với phần thƣởng nhƣ sau - đối tƣợng đầu tiên hài lòng về tài chính, đối tƣợng cá thể thứ hai hài lòng về phần thƣởng tâm lý. Xét theo khía cạnh loại ngƣời đầu tiên liên quan hài lòng về phần thƣởng tài chính bao gồm hai cấu trúc: hài lòng về mức độ lợi ích và hệ thống lợi ích. Mức độ hài lòng của lợi ích đề cập đến sự hài lòng của nhân viên với số lƣợng lợi ích mà họ nhận đƣợc (lƣơng, thƣởng). Mặt khác, Miceli và Lane (1991) xác định sự hài lòng của hệ thống lợi ích là hệ thống mà theo đó các lợi ích đƣợc quản lý là kết quả trong một kết quả thực hiện công việc của nhân viên.
Thêm vào đó, Williams at al. Bên cạnh đó, Lawler (1981); Williams at al. (2001) tin tƣởng rằng sự hài lòng của nhân viên và đặc biệt là sự hài lòng của họ đối với phần thƣởng của họ là then chốt trong việc ảnh hƣởng đến phản ứng cảm xúc của họ đối với công ty và do đó sẽ ảnh hƣởng đến hành vi của họ. Xét theo khía cạnh loại ngƣời thứ hai liên quan hài lòng về phần thƣởng tâm lý nhƣ Hackman và Oldham (1975) tin tƣởng rằng sự thoả mãn của công việc là những giá trị chiêm nghiệm và cảm nhận đƣợc sự tổng hợp 5 yếu tố cốt lõi nhƣ sự phát triển kỹ năng, xác định bản chất công việc, mức độ quan trọng công việc, thẩm quyền quyết và phản hồi thúc đẩy động lực làm việc, hiệu quả công việc cao.
Thêm vào đó, theo Somers (1995); Griffeth at al. (2000); Meyer at al. (2002); Pare at al. 9 Bagraim (2010); Calisir at al.
(2011) đƣa ra rằng cam kết tình cảm đã đƣợc tìm thấy làm giảm đáng kể việc rời công ty giữa các nhân viên. Quan trọng hơn, giữ chân những ngƣời lao động tri thức ở lại vì họ muốn (cam kết tự nguyện) có thể tăng khả năng chia sẻ kiến thức cá nhân của họ một cách tự nguyện và đóng góp vào hồ sơ tri thức của tổ chức. Còn bên nhận định của Colquitt at al. (2001) ; Jawahar và Stone (2011) một nhân viên cảm thấy sự thoả mãn về lợi ích nghề nghiệp của bản thân khi họ có đầy đủ thông tin.
Công bằng thông tin là khi cấp dƣới đƣợc giải thích một vấn đề là đầy đủ, hoàn chỉnh và kịp thời, phù hợp với nhu cầu nhân viên. Nói cụ thể hơn, sự hài lòng trong công việc của nhân viên kèm theo các yếu tố nhƣ sự thoả mãn với phần thƣởng tiền bạc lẫn cả sự hài lòng về phần thƣởng tâm lý. Và khi sự đáp ứng hiệu quả hai nhu cầu càng cao thì nhân viên càng có ý gắn chặt với công ty. Một số học thuyết về sự hài lòng trong công việc Có rất nhiều học thuyết khác nhau về mức độ hài lòng đối với công việc, sau đây là khái quát một vài học thuyết đáng chú ý: 2.
Thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow (1943) Lý thuyết gia Maslow (1943) cho biết trong đời sống tự nhiên và xã hội có những nhu cầu cần đáp ứng từ thấp lên cao. 10 Tự thể hiện Nhu cầu tự trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu an toàn Nhu cầu sinh lý Hình 2. Thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow (1943) Cấp bậc 1: Nhu cầu căn bản dinh dƣỡng hợp vệ sinh, cƣ ngụ hợp pháp, sống thanh thản,… tạo thành sức khoẻ giúp ngƣời công nhân làm việc bền vững, có sức khoẻ, có năng suất. Nhờ thế đạt đƣợc mức lƣơng dƣ dật để cuộc sống tốt đẹp.
Cấp bậc 2: Đáp ứng cho yên ổn hoàn toàn, vƣợt trở ngại mà không gặp nguy hiểm, nhờ sự giúp đỡ của Nhà Nƣớc nhƣ chế độ chính sách (BHYT, BHXH, BHTN,…) hoặc đƣợc an toàn khi lao động sản xuất. Cấp bậc 3: Cách thức sinh hoạt chung trong xã hội nhƣ: gia đình, trƣờng học, công ty, xí nghiệp, giao dịch giữa mua và bán theo quy luật hai bên đều có lợi, gia đình sống hạnh phúc, trƣờng học cung cấp những kiến thức tốt xây dựng và bảo vệ đời sống con ngƣời. Cấp bậc 4: Hãy giữ gìn phẩm chất đạo đức cho bản thân để đạt đến giá trị ai cũng coi trọng mình. Lời khuyên đạo đức trong xã hội là không say sƣa, rƣơụ chè, cờ bạc, hút nghiện chất cấm.
Tôn trọng luật pháp thì đƣợc luật pháp bảo vệ, là cách ngƣời lao động tự trọng và bảo vệ mình, đƣợc mọi ngƣời tôn trọng. Cấp bậc 5: Tự bày tỏ bằng hành động đã đạt thành tích cao trong môi trƣờng làm việc tốt có hy vọng đƣợc tƣởng thƣởng trong các kỳ lễ do đợn vị, cơ quan tổ chức. 11 Lý thuyết Maslow (1943) nhằm phân tách nhu cầu có hai loại: căn bản là nền tảng ở dƣới nhƣ cấp bậc 1 và 2 nói về con ngƣời có nhu cầu sinh lý và nhu cầu đƣợc bảo vệ an toàn, còn lại nhu cầu vƣơn cao hơn nhƣ trong cấp bậc 3, 4 và 5 gồm nhu cầu với cộng đồng xã hội và gia đình có phẩm chất tốt đẹp, sống hạnh phúc, đƣợc mọi ngƣời tôn trọng, đạt thành tích cao trong lao động.