Mở đầu sẽ giới thiệu cơ sở hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài. Chương 2 - Cơ sở lý thuyết sẽ giới thiệu lý thuyết làm nền tảng cho việc nghiên cứu. Chương này cũng sẽ giới thiệu mô hình nghiên cứu được xây dựng ban đầu từ cơ sở lý thuyết. 8 Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu sẽ giới thiệu về việc xây dựng thang đo, cách chọn mẫu, công cụ thu thập dữ liệu, quá trình thu thập thông tin được tiến hành như thế nào và các kỹ thuật phân tích dữ liệu thống kê được sử dụng trong đề tài này.
Chương 4 - Kết quả nghiên cứu sẽ phân tích, diễn giải các dữ liệu đã thu được từ cuộc khảo sát. Tiếp theo là hai phương pháp phỏng vấn tay đôi và thảo luận nhóm được sử dụng để hình thành các giải pháp thích hợp cho TMA. Từ đây, các giải pháp cho TMA sẽ được xem xét và đề nghị. Chương 5 - Kết luận và kiến nghị sẽ đưa ra một số kết luận từ kết quả thu được và một số hạn chế, kiến nghị cho các nghiên cứu tương lai.
9 Chương 2: Cơ Sở Lý Thuyết Chương này trước hết sẽ giới thiệu các khái niệm về dịch vụ, sự hài lòng của khách hàng. Tiếp theo là tìm hiểu về chuỗi lợi nhuận dịch vụ và sự cân bằng trong tổ chức. Cuối cùng là xây dựng mô hình nghiên cứu ban đầu cho đề tài. Dịch vụ Trong phần này sẽ giới thiệu hai khái niệm là dịch vụ và các đặc tính của dịch vụ theo các tác giả Lovelock và Wirtz (2007).
Khái niệm về dịch vụ Có rất nhiều định nghĩa về dịch vụ nhưng tất cả đề mang tính phi vật chất và mang tính đồng thời (sản xuất và tiêu dùng xảy ra đồng thời). Theo các tác giả thì “dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng”. Các đặc tính của dịch vụ Dịch vụ là một “sản phẩm đặc biệt” có nhiều đặc tính khác với các loại hàng hóa khác như tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời và tính không thể cất trữ. Chính những đặc tính này làm cho dịch vụ trở nên khó định lượng và không thể nhận dạng bằng mắt thường được.
Tính vô hình (intangible) Dịch vụ không có hình dáng cụ thể, không thể sờ mó, cân đong, đo đếm một cách cụ thể như đối với các sản phẩm vật chất hữu hình. Khi mua sản phẩm vật chất, khách hàng có thể yêu cầu kiểm định, thử nghiệm chất lượng trước khi mua nhưng sản phẩm dịch vụ thì không thể tiến hành đánh giá như thế. Do tính chất vô hình, dịch vụ không có “mẫu” và cũng không có “dùng thử” như sản phẩm vật chất. Chỉ thông qua việc sử dụng dịch vụ khách hàng mới có thể cảm nhận và đánh giá chất lượng dịch vụ một cách đúng đắn nhất.
Tính không đồng nhất (heterogeneous) 10 Đặc tính này còn được gọi là tính khác biệt của dịch vụ. Theo đó, việc thực hiện dịch vụ thường khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp dịch vụ, người phục vụ, thời gian thực hiện, lĩnh vực phục vụ, đối tượng phục vụ và địa điểm phục vụ. Hơn thế, cùng một loại dịch vụ cũng có nhiều mức độ thực hiện từ “cao cấp”, “phổ thông” đến “thứ cấp”. Vì vậy, việc đánh giá chất lượng dịch vụ hoàn hảo hay yếu kém khó có thể xác định dựa vảo một thước đo chuẩn mà phải xét đến nhiều yếu tố liên quan khác trong trường hợp cụ thể.
Tính không thể tách rời (inseparable) Tính không thể tách rời của dịch vụ thể hiện ở việc khó thể phân chia dịch vụ thành hai giai đoạn rạch ròi là giai đoạn sản xuất (production) và giai đoạn sử dụng (consumption). Sự tạo thành và sử dụng dịch vụ thông thường diễn ra dồng thời cùng lúc với nhau. Nếu hàng hóa thường được sản xuất, lưu kho, phân phối và sau cùng mới giao đến người tiêu dùng thì dịch vụ được tạo ra và sử dụng ngay trong suốt quá trình tạo ra đó. Đối với sản phẩm hàng hóa, khách hàng chỉ sử dụng sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng (end-users), còn đối với dịch vụ, khách hàng đồng hành trong suốt hoặc một phần của quá trình tạo ra dịch vụ.
Nói cách khác, sự gắn liền của hai quá trình này làm cho dịch vụ trở nên hoàn tất. Tính không thể cất trữ (unstored) Dịch vụ không thể cất trữ, lưu kho rồi đem bán như hàng hóa khác. Chúng ta có thể ưu tiên thực hiện dịch vụ theo thứ tự trước sau nhưng không thể đem cất dịch vụ rồi sau đó đem ra sử dụng vì dịch vụ thực hiện xong là hết, không thể để dành cho việc “tái sử dụng” hay “phục hồi” lại. Chính vì vậy, dịch vụ là sản phẩm được sử dụng khi tạo thành và kết thúc ngay sau đó.
Sự hài lòng của khách hàng Cũng theo các tác giả Lovelock và Wirtz (2007), phần này tiếp tục tìm hiểu về sự hài lòng của khách hàng và vai trò của nó. Định nghĩa sự hài lòng Hài lòng là sự biểu hiện thái độ của khách hàng sau khi trải nghiệm sản phẩm. Hầu hết các nghiên cứu cho rằng sự mong đợi là nền tảng trong việc xác định sự hài lòng của 11 khách hàng. Điều này có nghĩa là khách hàng đã có thông tin để dự đoán hoặc dự kiến mức độ dịch vụ trước khi mua.
Việc này là kết quả của quá trình tìm hiểu và lựa chọn.Trong suốt quá trình sử dụng, khách hàng sẽ trải nghiệm chất lượng của sản phẩm và so sánh với mức độ nhận thức được. Dựa trên việc này, sự thỏa mãn sẽ được nhìn nhận và biểu lộ. Nếu sản phẩm vượt hơn sự mong đợi thì khách hàng hài lòng. Vai trò quan trọng của sự hài lòng Những công ty mà khách hàng có sự hài lòng thấp (marginally satisfied customers) sẽ có nguy cơ chuyển sang sử dụng dịch vụ hoặc mua sản phẩm của đối thủ.
Tuy nhiên, những khách hàng có sự hài lòng cao (delighted customers) sẽ duy trì sử dụng và trung thành với công ty. Nhờ vào đó, nhiều khách hàng tiềm năng có thể sẽ đến với công ty nhờ vào chính sự giới thiệu của khách hàng hiện có. Chính vì thế, chi phí thu hút khách hàng sẽ giảm đáng kể, khách hàng sẽ ít quan tâm hơn tới sản phẩm của đối thủ. Cách ly khách Lặp lại và trung hàng với đối thủ thành Sự hài lòng của khách hàng Tăng cường, thúc Tạo sự cải tiến đẩy truyền miệng hoàn chỉnh Giảm chi phí thu Giảm chi phí hút khách hàng mới lổi Hình 2.
Lợi ích từ sự hài lòng của khách hàng 2. Chuỗi lợi nhuận dịch vụ 2. Giới thiệu Ngày càng nhiều công ty nhận thấy rằng, việc coi trọng nhân viên và khách hàng là việc làm rất quan trọng trong cách quản lý và đo lường sự thành công. Sự phát triển của nền kinh tế dịch vụ đòi hỏi việc đổi mới trong kỹ thuật đo lường.
Những kỹ thuật này hiệu chỉnh các tác động của sự hài lòng, lòng trung thành và năng suất trên giá trị của sản phẩm và dịch vụ cung cấp để các nhà quản lý có thể xây dựng sự hài lòng, lòng trung thành và đánh giá tác động về lợi nhuận, tăng trưởng tương ứng. Thực tế, giá trị của một 12 khách hàng trung thành mang lại cho doanh nghiệp rất lớn. Đặc biệt là sự giới thiệu những khách hàng mới, góp phần giữ chân khách hàng và việc mua hàng lặp lại các sản phẩm liên quan. Chuỗi giá trị đã được phát triển từ các tổ chức cung cấp dịch vụ thành công.
Nó giúp các nhà quản lý xác định mục tiêu đầu tư mới để phát triển dịch vụ và mức độ hài lòng nhằm đạt đến sức mạnh cạnh tranh tối đa, mở rộng khoảng cách giữa những nhà cung cấp dịch vụ hàng đầu so với đối thủ của họ. Chuỗi dịch vụ lợi nhuận thiết lập mối quan hệ giữa lợi nhuận, lòng trung thành của khách hàng, sự hài lòng của nhân viên, lòng trung thành và năng suất. Sự liên hệ này được miêu tả như hình dưới. Liên kết trong chuỗi lợi nhuận dịch vụ (Heskett, 1994) Sự phát triển của lợi nhuận chủ yếu xuất phát từ lòng trung thành của khách hàng.
Trong khi đó, lòng trung thành là kết quả từ sự hài lòng của khách hàng, và điều này bị ảnh hưởng rất lớn bởi giá trị của dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Tiếp theo, giá trị này là kết quả được tạo ra bởi năng suất làm việc, lòng trung thành, và tất cả đi từ sự hài lòng của nhân viên phục vụ. Cuối cùng, nhân viên hài lòng là kết quả chủ yếu từ các dịch vụ 13 hỗ trợ chất lượng cao và các chính sách cho phép nhân viên làm việc và cung cấp kết quả mong muốn cho khách hàng. Các mối liên kết của chuỗi lợi nhuận dịch vụ trong quản trị Trong khi rất nhiều tổ chức đang bắt đầu đo lường mối liên hệ giữa các liên kết riêng biệt trong chuỗi lợi nhuận dịch vụ thì chỉ có một số ích có liên quan theo cách thức qua lại.
Điều này có thể dẫn đến chiến lược toàn diện để đạt được lợi thế cạnh tranh lâu dài. Cụ thể hơn, mô hình không chỉ xác định mối liên kết giữa sự thỏa mãn, lòng trung thành của nhân viên mà còn xác định nguồn gốc của sự thỏa mãn là khả năng nhận thức của nhân viên để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Một khi đã đạt được các yếu tố trên, đội ngũ nhân viên này sẽ cảm thấy họ đã phục vụ đúng những gì khách hàng cần và mức độ thỏa mãn công việc sẽ cao hơn gấp hai lần những người khác. Nhưng điều quan trọng hơn là khi nhân viên dịch vụ rời khỏi công ty, sự thỏa mãn của khách hàng giảm xuống từ 75% xuống 50%.
Việc xác định những liên kết này sẽ thúc đẩy các nhà quản lý có cơ hội xem xét và xác định những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự thỏa mãn công việc. Từ đó, những nhân tố được xác định đó là sự hài lòng với công việc, đào tạo, lương, thăng tiến, sự tôn trọng, làm việc theo nhóm và sự quan tâm của công ty với nhân viên. Với những thông tin này, nhà quản lý bắt đầu suy xét những yếu tố mang đến giá trị nhất cho nhân viên và vận dụng khả năng của mình cho công tác đào tạo hoặc các chính sách khác. Các mối liên kết trong mô hình mang tính trật tự cao.