Luận án tiến sĩ đẩy mạnh hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ của các trường đại học kinh nghiệm quốc tế và bài học cho việt nam

Luận án tiến sĩ phân tích kinh nghiệm quốc tế, đề xuất giải pháp đẩy mạnh hợp tác khoa học công nghệ tại các trường đại học Việt Nam.

Chuyên ngành

Kinh tế quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

173
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CÁM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU HỢP TÁC QUỐC TẾ

1.1. VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC

1.2. Nghiên cứu hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ

1.3. Nghiên cứu lý luận hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ

1.4. Nghiên cứu về hình thức hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ

1.5. Nghiên cứu về tiêu chí và phương pháp đo lường hoạt động HTQT về KHCN

1.6. Nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng tới hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ

1.7. Nghiên cứu về tác động của hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ tới trường đại học

1.8. Nghiên cứu hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ của trường đại học

1.9. Nghiên cứu về trường đại học

1.10. Nghiên cứu thực nghiệm hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ của trường đại học

1.11. Khoảng trống nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC

2.1. Khái quát chung về trường đại học

2.2. Khái niệm trường đại học

2.3. Các phương thức sản xuất tri thức và hoạt động hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ của trường đại học

2.4. Khái niệm hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ của trường đại học

2.5. Hình thức hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ của trường đại học. Tiêu chí đo lường hoạt động hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ của trường đại học

2.6. Nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ của trường đại học

2.7. Tác động của hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ tới trường đại học

2.8. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

3.1. Quy trình và mẫu nghiên cứu

3.2. Quy trình nghiên cứu

3.3. Mẫu nghiên cứu. Kinh nghiệm hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ giữa trường đại học Bồ Đào Nha và Mỹ

3.4. Trường đại học Bồ Đào Nha và Massachusetts Institute of Technology (MIT)

3.5. Trường đại học Bồ Đào Nha và Carnegie - Mellon (CMU)

3.6. Trường đại học Bồ Đào Nha và University of Texas at Austin - UTA

3.7. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

3.8. Kinh nghiệm hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ của trường đại học Trung Quốc

3.9. Trường đại học Trung Quốc và công ty Royal Philips Electronics Hà Lan

3.10. Trường đại học Trung Quốc và tổ chức CSIRO - Úc

3.11. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

4. CHƯƠNG 4: THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ

4.1. Khái quát chung về hoạt động hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ của các trường đại học Việt Nam

4.2. Thực tiễn hoạt động hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ của các trường đại học Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

4.3. Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng của hoạt động HTQT về KHCN

4.4. Chỉ tiêu đánh giá tác động học thuật của hoạt động HTQT về KHCN

4.5. Chỉ tiêu đánh giá việc thực hiện hoạt động HTQT về KHCN của trường đại học Việt Nam

4.6. Quy mô hoạt động HTQT của trường đại học

4.7. Đánh giá thực trạng hoạt động hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ của các trường đại học Việt Nam

4.8. Những thành tựu

4.9. Những tồn tại. Nguyên nhân của những tồn tại

5. CHƯƠNG 5: KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH NHẰM ĐẨY MẠNH HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI

5.1. Các xu thế hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ trên thế giới

5.2. Xu thế chính sách KHCN và đổi mới sáng tạo trên thế giới

5.3. Xu thế HTQT về KHCN trên thế giới

5.4. Chủ trương của Đảng và Chính phủ về hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ Việt Nam

5.5. Quan điểm của Đảng và Chính phủ về hoạt động khoa học và công nghệ

5.6. Mục tiêu phát triển hoạt động khoa học và công nghệ của trường đại học

5.7. Khuyến nghị chính sách đẩy mạnh hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ của các trường đại học Việt Nam trong thời gian tới

5.8. Khuyến nghị với Chính phủ. Về chính sách hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ của trường đại học

5.9. Thực hiện chính sách hỗ trợ cho hoạt động HTQT về KHCN

5.10. Kiến nghị với Bộ Khoa học và Công nghệ

5.11. Kiến nghị với Bộ Giáo dục và Đào tạo

5.12. Khuyến nghị chính sách xây dựng nguồn nhân lực KHCN của trường đại học

5.13. Nhóm giải pháp thúc đẩy hoạt động hợp tác quốc tế của trường đại học

5.14. Giải pháp liên quan tới tạo dựng khuôn khổ pháp lý cho HTQT về KHCN của trường đại học

5.15. Giải pháp về chế độ đối với giảng viên có công bố quốc tế

5.16. Giải pháp tăng cường sự phối hợp của các bộ phận của trường đại học tham gia HTQT

5.17. Giải pháp xây dựng và cải thiện nguồn nhân lực nghiên cứu của trường đại học

5.18. Xây dựng và cải thiện kênh HTQT hiệu quả

5.19. Giải pháp hỗ trợ cho hoạt động HTQT về KHCN của các trường đại học

5.20. Hạn chế của luận án và hướng nghiên cứu mới

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về hợp tác quốc tế trong khoa học và công nghệ

Hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ (hợp tác quốc tế, khoa học và công nghệ) đã trở thành một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển của các trường đại học. Các mô hình hợp tác này không chỉ giúp chia sẻ nguồn lực mà còn tạo ra cơ hội cho việc phát triển các công nghệ tiên tiến. Theo European Commission (2012), hợp tác quốc tế giúp rút ngắn khoảng cách giữa các quốc gia về trình độ khoa học và công nghệ. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa, nơi mà sự cạnh tranh về tri thức và công nghệ ngày càng gia tăng. Hợp tác quốc tế không chỉ là một xu hướng mà còn là một yêu cầu thiết yếu để các trường đại học có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh tế tri thức.

1.1. Tầm quan trọng của hợp tác quốc tế

Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học và công nghệ (hợp tác toàn cầu) không chỉ giúp các trường đại học nâng cao chất lượng nghiên cứu mà còn tạo ra những cơ hội mới cho sinh viên và giảng viên. Việc tham gia vào các dự án nghiên cứu quốc tế giúp các nhà nghiên cứu tiếp cận với các công nghệ mới và phương pháp nghiên cứu tiên tiến. Điều này không chỉ nâng cao năng lực nghiên cứu mà còn góp phần vào việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước. Hơn nữa, hợp tác quốc tế còn giúp các trường đại học Việt Nam nâng cao vị thế trên trường quốc tế, từ đó thu hút thêm nguồn lực và đầu tư cho nghiên cứu và phát triển.

II. Kinh nghiệm quốc tế trong hợp tác khoa học và công nghệ

Nghiên cứu kinh nghiệm hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ từ các quốc gia như Bồ Đào Nha và Trung Quốc cho thấy rằng việc xây dựng các mối quan hệ đối tác chiến lược là rất quan trọng. Các trường đại học tại Bồ Đào Nha đã thành công trong việc hợp tác với các trường đại học hàng đầu của Mỹ như MIT và Carnegie Mellon. Những mối quan hệ này không chỉ giúp nâng cao chất lượng nghiên cứu mà còn tạo ra các cơ hội việc làm cho sinh viên. Hơn nữa, việc tham gia vào các dự án nghiên cứu quốc tế giúp các trường đại học này tiếp cận với các nguồn tài trợ nghiên cứu lớn, từ đó thúc đẩy sự phát triển của khoa học và công nghệ trong nước.

2.1. Hợp tác giữa các trường đại học

Hợp tác giữa các trường đại học quốc tế đã chứng minh là một mô hình hiệu quả trong việc phát triển khoa học và công nghệ. Các trường đại học có thể chia sẻ tài nguyên, kiến thức và kinh nghiệm, từ đó tạo ra những sản phẩm nghiên cứu có giá trị cao. Ví dụ, trường đại học Bồ Đào Nha đã hợp tác với các trường đại học hàng đầu của Mỹ để phát triển các chương trình nghiên cứu chung, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu. Điều này cho thấy rằng việc xây dựng các mối quan hệ hợp tác bền vững là rất cần thiết để phát triển khoa học và công nghệ trong bối cảnh toàn cầu hóa.

III. Bài học cho Việt Nam

Việt Nam có thể học hỏi từ những kinh nghiệm quốc tế trong việc phát triển hợp tác khoa học và công nghệ. Để nâng cao hiệu quả của hợp tác quốc tế, các trường đại học Việt Nam cần xây dựng các chính sách hỗ trợ mạnh mẽ hơn cho hoạt động nghiên cứu và phát triển. Điều này bao gồm việc tạo ra các cơ chế khuyến khích cho giảng viên và sinh viên tham gia vào các dự án nghiên cứu quốc tế. Hơn nữa, việc tăng cường đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cũng là một yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của các trường đại học Việt Nam trên trường quốc tế.

3.1. Đề xuất chính sách

Chính phủ Việt Nam cần có những chính sách cụ thể để thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học và công nghệ. Các chính sách này nên tập trung vào việc tạo ra môi trường thuận lợi cho các trường đại học trong việc tìm kiếm và thiết lập các mối quan hệ hợp tác với các đối tác quốc tế. Đồng thời, cần có các chương trình hỗ trợ tài chính cho các dự án nghiên cứu quốc tế, từ đó khuyến khích các trường đại học tham gia vào các hoạt động nghiên cứu và phát triển. Việc này không chỉ giúp nâng cao chất lượng nghiên cứu mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc gia.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ đẩy mạnh hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ của các trường đại học kinh nghiệm quốc tế và bài học cho việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Nghiên cứu hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ 1. Nghiên cứu lý luận hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ Cho tới nay có nhiều lý thuyết giải thích tại sao các chủ thể trong nền kinh tế phải hợp tác với nhau. Lý thuyết về sự phụ thuộc nguồn lực của Pfeffer và Salancik (1978) luận giải thực tế có rất ít các tổ chức, quốc gia, cá nhân có khả năng tự đáp ứng nguồn lực quan trọng cho chính mình, do đó các tổ chức phải thiết lập mối quan hệ với nhau, tạo lợi thế cạnh tranh và duy trì sự phát triển bền vững trong dài hạn.

Lý thuyết về nền kinh tế thể chế của Oliver (1990) liệt kê 6 lý do thiết lập mối quan hệ giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Thứ nhất, là yêu cầu về pháp lý đòi hỏi việc thiết lập mối quan hệ giữa các chủ thể là bắt buộc. Thứ hai, thực tế chỉ ra mỗi chủ thể có nguồn lực nhất định nên phải chia sẻ với nhau. Thứ ba, thực tế cũng chỉ ra các chủ thể kiểm soát tốt hơn nguồn lực thông qua hợp tác, chứ không phải một mình chiếm hữu.

Thứ tư, tính hiệu quả của hợp tác thể hiện bằng việc giảm chi phí. Thứ năm, hoạt động hợp tác giúp ích cho các chủ thể đối phó với môi trường hoạt động bất ổn. Cuối cùng và cũng quan trọng, hoạt động hợp tác hỗ trợ xây dựng và cải thiện hình ảnh, uy tín của các chủ thể. Khái niệm HTQT về KHCN được nghiên cứu theo nhiều quan điểm, có thể là mối quan hệ, là một cấu trúc thể chế, hay là một quá trình.

Các tổ chức quốc tế là người đi tiên phong theo quan điểm HTQT về KHCN là mối quan hệ. Theo quan điểm của nhóm chuyên gia tư vấn thuộc Ủy ban châu Âu (EU, 2012), HTQT về KHCN gắn với quá trình quốc tế hóa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, coi hoạt động HTQT về KHCN được hiểu là mối quan hệ hợp tác giữa những người tham gia hoạt động KHCN có lợi nhuận hay phi lợi nhuận được thể hiện rõ trong chính sách, hành động và nguồn lực nhằm ảnh hưởng tới hoạt động HTQT với các mục tiêu cụ thể của EU, thông qua các thỏa thuận song phương và đa phương. Cùng quan điểm HTQT về KHCN là mối quan hệ, các chuyên gia tư vấn thuộc nhóm Technopolis (EU) trong khuôn khổ các nước châu Âu Boekholt, Edler, n 10 Cunningham, Flanagan (2009) đưa ra khái niệm HTQT về KHCN theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Smith và Katz (2000) tiếp cận hoạt động HTQT về KHCN theo cấu trúc thể chế.

Tác giả nhận thấy bản chất hoạt động HTQT về KHCN phức tạp nên làm thế nào để phân chia và xác định hình thức hợp tác là quan trọng. Trên thực tế, các tổ chức có nhiều loại hình hợp tác khác nhau về cấu trúc, vai trò, mục tiêu, mức độ hợp tác. Một nhóm tác giả khác lại cho rằng hoạt động HTQT về KHCN là một quá trình. Patel (1972), Schrage (1995), Katz và Martin (1997, tr.

7) thống nhất cùng quan điểm khi đưa ra định nghĩa: “Hợp tác khoa học là một quá trình làm việc chung với sự tham gia của hai hay nhiều bên để đạt được mục đích chung”. Campbell và các cộng sự (2005) định nghĩa: “hoạt động HTQT về KHCN là một quá trình có mục đích làm việc chung lên kế hoạch, sáng tạo và giải quyết vấn đề và/hoặc quản lý các hoạt động khoa học”. 2) cho rằng “hoạt động HTQT về KHCN là một quá trình xã hội”. Quan điểm HTQT về KHCN của Bozeman gắn với chủ thể tham gia là các nhà nghiên cứu của trường đại học, xuất phát từ nhu cầu của chính nhà nghiên cứu.

Bozeman cũng phân định hoạt động HTQT về KHCN với hai mục tiêu nghiên cứu nhằm gia tăng tri thức hoặc gia tăng của cải. Theo các quan điểm khác: Quan điểm của D’Amour, Ferrada - Videla, Rodriguez, và Beaulieu (2005) cho rằng hoạt động HTQT về KHCN thông thường gắn với 5 thuật ngữ cơ bản: chia sẻ nguồn lực (Sharing) con người, tri thức, trách nhiệm/quyền lực gắn liền với xây dựng năng lực nguồn lực xã hội, hợp tác giữa các pháp nhân (Partnership), mối quan hệ quyền lực (power), sự phụ thuộc lẫn nhau (interdependency) và quy trình hợp tác (process). Ynalvez và Shrum (2011) định nghĩa hoạt động HTQT về KHCN “là nơi các nhà khoa học từ các quốc gia khác nhau thực hiện dự án chung, hoặc chia sẻ dữ liệu chung để đạt được mục đích nghiên cứu”. Nghiên cứu về hình thức hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ Smith và Katz (2000) đã chia hoạt động HTQT về KHCN theo các loại hình cấu trúc thể chế: hợp tác giữa các pháp nhân; hợp tác theo nhóm nghiên cứu; hợp tác giữa các cá nhân.

Tác giả cũng đồng thời chỉ ra đặc tính và lợi ích của từng loại hình kể trên. Hagedoorn (2000) nghiên cứu mối quan hệ đối tác ở Mỹ và châu Âu theo các tiêu chí: (i) xu hướng hình thành đối tác HTQT; (ii) các thành viên tham gia; (iii) n 11 động cơ tham gia; (iv) lợi ích thu được từ hoạt động đối tác. Đối tác HTQT có thể được hình thành thông qua mối quan hệ hoặc cấu trúc thể chế trong mối quan hệ, giữa các thành viên trong khu vực công, giữa các thành viên trong khu vực tư nhân hoặc giữa thành viên ở trong cả hai khu vực. Theo chủ thể tham gia, Isabelle (2007) lại chia các loại hình hợp tác thành hợp tác giữa các cá nhân gồm 2 - 3 người; giữa các tổ chức ở các quốc gia với nhau; giữa các nhóm nghiên cứu.

Katz và Martin (1997) chia hoạt động HTQT về KHCN theo chủ thể tham gia gồm: giữa các cá nhân; giữa các tổ chức; giữa nhóm nghiên cứu quốc tế. Heimeriks, Horleberger và các cộng sự (2003) cũng chia hoạt động HTQT về KHCN thành 5 loại hình cơ quan chính phủ và quốc tế, doanh nghiệp tư vấn, các tổ chức phi thương mại, các tổ chức nghiên cứu theo hợp đồng, và trường đại học. EU (2012) lại phân chia loại hình HTQT về KHCN theo chủ thể gắn với chức năng và đặc điểm của các chủ thể, gồm cá nhân nhà khoa học, các tổ chức nghiên cứu và các công ty. Cá nhân nhà khoa học gắn với các hoạt động: (i) hợp tác nghiên cứu; (ii) tài trợ nghiên cứu; (iii) di chuyển thể nhân.

Các công ty có thể hợp tác nghiên cứu với các công ty và với các trường đại học theo dự án. Những năm 1990, các nghiên cứu, đi đầu là lý thuyết của Etzkowitz và Leydesdorff (1998) với mô hình Triple Helix tập trung vào mối quan hệ giữa trường đại học, khu vực doanh nghiệp và Chính phủ - những chủ thể trước đây được coi là các khu vực tương đối độc lập với nhau. Đối lập với lý thuyết truyền thống sản xuất tri thức đơn ngành, mô hình tác giả đưa ra chứng minh hoạt động đổi mới sáng tạo đòi hỏi mối quan hệ tổ chức nhiều bên ở nhiều giai đoạn trong quá trình thương mại hóa tri thức, trong đó, tri thức được tạo ra phát triển thông qua mối quan hệ hợp tác ba bên hơn là chỉ chuyển giao tri thức. Nghiên cứu về mối quan hệ giữa hợp tác giữa Chính phủ và trường đại học, một số tác giả nhận thấy nhiều ưu điểm.

Trường đại học có khả năng hợp tác thực hiện nhóm nghiên cứu đa ngành theo năng lực nghiên cứu đơn ngành của trường (Bozeman, 2000). Sự phối hợp giữa trường đại học, khu vực doanh nghiệp giúp xây dựng năng lực sáng tạo quốc gia (Bercovitz & Feldmann, 2006). Afzal và cộng sự sử dụng mô hình Triple Helix đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, vị thế của 4 trường đại học nghiên cứu của Malaysia trong khu vực. Số lượng đối tác hợp tác quốc tế là công ty cho các trường đại học tương đối ổn định, vẫn được n 12 duy trì ở mức 75%.

Động cơ HTQT liên quan tới quyền sở hữu trí tuệ, tuyển dụng nhà nghiên cứu/ chuyên gia từ nước ngoài, thương mại hóa sáng kiến và công nghệ, chia sẻ trang thiết bị nghiên cứu từng bước đưa các trường đại học Malaysia có vị thế quốc tế. Carayannis và Campbell (2009) thêm trục thứ tư là truyền thông và văn hóa (media - based và culture - based public) vào mô hình Triple helix tạo nên Quadruple helix gắn với phương thức sản xuất tri thức thứ ba ở cấp độ toàn cầu hóa trong hệ thống vĩ mô. Tác giả nhấn mạnh khi Chính phủ thiết kế chính sách về KHCN và ĐMST, cần phải chú ý tới vai trò của công chúng như quyền tham gia góp ý, phản biện chính sách thông qua các phương tiện truyền thông. Theo theo các lĩnh vực nghiên cứu HTQT về KHCN được chia theo các lĩnh vực đơn ngành của các trường đại học, như khoa học về con người, khoa học tự nhiên, khoa học cơ khí và công nghệ (Katz và Martin 1997).

Luukkonen, Persson và cộng sự (1992) nhận thấy ba lĩnh vực thường xuyên diễn ra hoạt động HTQT giai đoạn 1970 - 1990 là khoa học không gian, toán học và vật lý. Theo lĩnh vực nghiên cứu, Lariviere và cộng sự (2015), Kweik (2015) nhận thấy lĩnh vực khoa học tự nhiên có số lượng công bố quốc tế nhiều hơn lĩnh vực khoa học nghệ thuật và nhân văn, trong đó số lượng bài nghiên cứu về vật lý và toán học chiếm tỷ trọng tương ứng 75% và 50%. Tuy nhiên, việc phân chia HTQT về KHCN theo các ngành khoa học này dường như không hợp lý khi thế giới chuyển sang giai đoạn HTQT đa ngành và phức tạp. Nhiều loại hình HTQT về KHCN cũng ra đời, như hợp tác nghiên cứu kèm với sử dụng phòng thí nghiệm là một hình thức hợp tác nghiên cứu bao phủ rộng khắp khu vực hoặc toàn cầu, hỗ trợ sự tương tác con người theo định hướng nghiên cứu chung, thúc đẩy sự liên hệ giữa các nhà nghiên cứu, những người có thể biết hoặc không biết nhau, và cho phép sử dụng dữ liệu chung để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu, hoặc phục vụ các sáng kiến khoa học của cộng đồng (Finholt 2003; Sonnenwald 2003, Dacid 2004).

Theo vị trí địa lý, Wayner (2006, tr. 7) hoạt động HTQT thông qua các dự án nghiên cứu tạo ra tri thức ở 4 cấp độ: địa phương, quốc gia, khu vực, và toàn cầu. HTQT về KHCN ở cấp độ toàn cầu hoàn toàn phụ thuộc vào sáng kiến cá nhân nhà nghiên cứu, quyết định ai sẽ tham gia vào mạng lưới nghiên cứu toàn cầu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tầm quan trọng của việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, đồng thời rút ra những bài học quý giá từ kinh nghiệm của các quốc gia đi trước. Tài liệu nhấn mạnh vai trò của hợp tác quốc tế trong việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển công nghệ tại Việt Nam. Đây là nguồn tham khảo hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp quan tâm đến phát triển bền vững thông qua khoa học và công nghệ.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ phát triển thông tin khoa học và công nghệ địa phương để thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ nghiên cứu trường hợp các doanh nghiệp chế biến dừa tỉnh bến tre 001, Luận văn thạc sĩ giải pháp phát triển mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ thành phố hải phòng, và Luận văn thạc sĩ quản lý vốn đầu tư phát triển khoa học và công nghệ ở tỉnh bắc giang. Những tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các giải pháp cụ thể và thực tiễn trong việc phát triển khoa học và công nghệ tại Việt Nam.