Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận thực tiễn về quản lý vốn đầu tư phát triển khoa học và công nghệ trên địa bàn cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng quản lý vốn đầu tư phát triển khoa học và công nghệ ở tỉnh Bắc Giang Chương 4: Định hướng và một số giải pháp góp phần hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Bắc giang 4 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH Ở VIỆT NAM 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Tình hình nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam trong những năm đổi mới vừa qua, quản lý vốn đầu tƣ KH & CN từ ngân sách Nhà nƣớc đã đƣợc nghiên cứu ở những “ cấp độ ” và với những góc nhìn khá đa dạng, chủ yếu là do các trƣờng đại học, các học viện, các viện và đơn vị chức năng thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trƣờng của Quốc hội và thuộc các bộ, ngành khác. Viện nghiên cứu chiến lƣợc và chính sách KH&CN đã có những nghiên cứu khá sâu về nguồn vốn đầu tƣ cho phát triển KH&CN trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần.
Trong đó có đề tài cấp Bộ với chủ đề “Chia sẻ kinh phí giữa Nhà nước và cơ sở cho dự án triển khai và đổi mới công nghệ” do Nguyễn Thanh Hà làm chủ nhiệm, nghiên cứu tình hình và cơ chế hoạt động của hệ thống các quỹ hỗ trợ tài chính cho hoạt động KH&CN ở Việt Nam. Ngoài ra, đơn vị này còn có những đề tài cấp cơ sở nhƣ: “Nâng cao hiệu quả một sổ chỉnh sách thuế và tín dụng khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới công nghệ” do Hoàng Văn Tuyên làm chủ nhiệm, bàn về chính sách thuế và tín dụng cùng một số cơ chế khác của Nhà nƣớc để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nghiên cứu và ứng dụng KH&CN vào sản xuất kinh doanh; từ đó đề xuất một số biện pháp chính sách về tài chính đối với doanh nghiệp; đề tài “Nghiên cứu xây dựng các hình thức hợp tác và cơ chế khuyến khích hợp tác viện - doanh nghiệp phát triển sản phẩm và công nghệ của doanh nghiệp” do Hoàng Thanh Hƣơng làm chủ nhiệm, đã phân tích mối quan hệ giữa hoạt động KH&CN và hoạt động sản xuất nhằm tìm ra 5 z và kiến nghị các hình thức hợp tác và cơ chế khuyến khích hợp tác cho mối quan hệ này. GS Vũ Đình Cự với bài báo khoa học: “Thị trường khoa học và công nghệ; đặc trưng của kinh tế tri thức” bàn khá sâu về nhiệm vụ do Đại hội IX của Đảng đặt về phát triển thị trƣờng KH&CN ở Việt Nam trong bối cảnh kinh tế tri thức đã hình thành và có xu hƣớng phát triển mạnh, tất yếu tác động đến nƣớc ta. Tác giả đã phân tích thực trạng thị trƣờng này và đƣa ra các giải pháp thúc đẩy nó phát triển.
TS Hồ Ngọc Luật với bài viết “Phát triển thị trường khoa học và công nghệ Việt Nam” nhằm phân tích các yếu tố cung - cầu, môi trƣờng pháp lý, xã hội cho thị trƣờng này hoạt động trôi chảy; đƣa ra đánh giá bƣớc đầu về sự phát triển thị trƣờng này và kiến nghị các giải pháp thúc đẩy phát triển. Các nghiên cứu nói trên đã đề cập, luận giải về nguồn vốn cho phát triển KH&CN trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần. Bên cạnh đó còn có một số bài viết về đầu tƣ phát triển KH&CN, phân tích thực trạng của hoạt động đầu tƣ này và kiến nghị giải pháp thúc đẩy nhƣ: “Vốn đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ vẫn chưa có lời giải hữu hiệu” của Hoàng Văn Dụ trên diễn đàn của Bộ Khoa học và Công nghệ, số 2/2003; “Quy chế tài chính không phù hợp với nghiên cứu khoa học và công nghệ” của Thu Hƣơng, số 1/2004; “Đầu tư cho khoa học công nghệ nông nghiệp” của Kiều Linh trên báo Nhân dân điện tử. Các công trình nêu trên, ở mức độ khác nhau, đã cung cấp một số tƣ liệu có giá trị tham khảo rất bổ ích cho luận văn, nhất là những kết quả nghiên cứu liên quan đến những vấn đề lý luận chung; những phân tích, đánh giá thực trạng và giải pháp về phát triển khoa học và công nghệ, quản lý vốn đầu tƣ khoa học và công nghệ ở Việt Nam.
Tuy nhiên việc nghiên cứu về thực tiễn quản lý vốn đầu tƣ khoa học và 6 z công nghệ từ ngân sách Nhà nƣớc trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong bối cảnh mới, khi Việt Nam đang tái cấu trúc nền kinh tế và hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, chƣa đƣợc tiếp cận, phân tích và thực hiện một cách hệ thống, chuyên sâu. Luận văn góp phần bổ sung, luận giải thêm một số nội dung về lý luận và thực tiễn quản lý vốn đầu tƣ KH&CN từ ngân sách Nhà nƣớc chƣa đƣợc hệ thống hóa, giải quyết. Đặc biệt, sẽ hệ thống hoá và phân tích chuyên sâu về lý luận và thực tiễn quản lý vốn đầu tƣ KH-CN từ ngân sách Nhà nƣớc tại tỉnh Bắc Giang. Vì vậy, đây là một công trình nghiên cứu độc lập, không trùng lặp với các công trình đã công bố.
Tình hình nghiên cứu ở ngước ngoài Trên thế giới cũng có nhiều công trình nghiên cứu về vốn đầu tƣ và vốn đầu tƣ phát triển khoa học - công nghệ của các nhà khoa học, các tổ chức. Coleman (1988) khẳng định vốn đầu tư là “sản phẩm tái sinh” của các hoạt động khác, thông qua mối quan hệ giữa các cá nhân, tổ chức với nhau, ngƣời ta thiết lập và duy trì những quan hệ nhƣ thế để tìm kiếm lợi ích. Theo quan điểm của Fukuyama (2002), cá nhân có thể tạo ra và sử dụng vốn đầu tư để phục vụ mục đích của mình. Trong khi đó Putnam (2000) cho biết vốn đầu tư được dùng để tìm kiếm sự thịnh vượng về kinh tế.
Lin (1999) lại nói rõ vốn đầu tư phản ánh khả năng đầu tư và lợi ích thu về. Nhƣ vậy cho đến nay, tầm quan trọng của vốn đầu tƣ khoa học công nghệ đã đƣợc đề cập trong các nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau trên thế giới. Trong đó đáng lƣu là bài viết của tác giả Fukuyama (2002), “Vốn đầu tư và phát triển: Chương trình nghị sự sắp tới”, đã nhấn mạnh đến tính tích cực của vốn đầu tƣ. Bài viết chỉ ra cách mà vốn đầu tƣ có thể đóng góp vào phát triển kinh tế và khoa học công nghệ.
Bài viết cũng giải thích rằng vốn đầu tƣ giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của nhiều doanh nghiệp. Bài viết của tác giả Woolcock (2001), “Vị trí của vốn đầu tư trong việc lý 7 z giải những kết quả kinh tế và xã hội”, nhấn mạnh rằng vốn đầu tƣ có vai trò quan trọng trong việc huy động các nguồn lực nhằm thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế,. Khái niệm và vai trò quản lý vốn đầu tƣ phát triển khoa học và công nghệ đối với phát triển kinh tế - xã hội ở cấp tỉnh 1. Một số khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm khoa học, công nghệ Nhìn tổng quát, khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tƣợng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tƣ duy. Dƣới các góc nhìn khác nhau, giới nghiên cứu có một số cách hiểu khác nhau về khoa học: Khoa học đƣợc hiểu là hệ thống các tri thức về mọi loại quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tƣ duy. Hệ thống tri thức ở đây là hệ thống tri thức khoa học. Khoa học đƣợc hiểu là hệ thống tri thức gồm các quy luật về tự nhiên, xã hội và tƣ duy đƣợc tích luỹ trong quá trình nhận thức trên cơ sở thực tiễn, đƣợc thể hiện bằng những khái niệm, phán đoán, học thuyết.
Ngƣời ta thƣờng phân loại theo 2 hệ thống tri thức: tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học. Tri thức kinh nghiệm là những hiểu biết đƣợc tích lũy qua hoạt động sống hằng ngày trong mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời và giữa con ngƣời với thiên nhiên. Quá trình này giúp con ngƣời hiểu biết về sự vật, về cách quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan hệ giữa con ngƣời với nhau trong xã hội. Tri thức kinh nghiệm đƣợc con ngƣời không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế.
Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chƣa thật sự đi sâu vào bản chất, chƣa thấy đƣợc hết các thuộc tính của sự vật và mối quan hệ bên trong giữa sự vật và con ngƣời. Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ 8 z phát triển đến một giới hạn hiểu biết nhất định, nhƣng nó lại là cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học. Tri thức khoa học là những hiểu biết đƣợc tích lũy một cách có hệ thống nhờ hoạt động NCKH, các họat động này có mục tiêu xác định và sử dụng phƣơng pháp khoa học. Khác với tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu thập đƣợc qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên.
Tri thức khoa học đƣợc tổ chức trong khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học nhƣ: triết học, sử học, kinh tế học, toán học, sinh học,… Theo quan điểm K.Marx thì khoa học đƣợc hiểu là một hình thái ý thức xã hội. Khoa học tồn tại độc lập tƣơng đối với các hình thái ý thức xã hội khác nhƣ tôn giáo, đạo đức, ý thức pháp quyền,. Chức năng xã hội riêng biệt của khoa học là khám phá cái mới, sáng tạo cái mới về thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Các định nghĩa về khoa học nói trên tuy có những điểm khác nhau nhƣng đều bao hàm các nội dung cơ bản dƣới đây: Khoa học là hệ thống tri thức về quy luật của sự vật, hiện tƣợng.
Chức năng khoa học là khám phá bản chất các hiện tƣợng của thế giới khách quan, hệ thống hoá các tri thức đã khám phá thành lý thuyết, học thuyết khoa học, nghiên cứu ứng dụng những thành quả sáng tạo thế giới hiện thực.