CHƯƠNG 1 CƠ Ở L LU N TH C TI N V UẢN L CHI NG N ÁCH NH NƯ C CHO NGHI P PHÁT T IỂN V N H A – THỂ DỤC THỂ THAO 1.1 Cơ sở lý luận về quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp phát triển văn hóa – thể dục thể thao 1.1 Mộ ố khái ni m liên qu n 1.1 Ngân sách Nhà nước Luật N NN 2015 có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2017, đã nêu: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước, đã được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. [1] Đây có thể coi là khái niệm cơ bản được thống nhất khi nghiên cứu về N NN. Nội dung khoa học của N NN: Là phạm trù kinh tế - lịch sử; là phạm trù kinh tế, N NN gắn với sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa; là phạm trù lịch sử, nó gắn với sự ra đời và phát triển của nhà nước và là công cụ kinh tế của nhà nước. Nhà nước sử dụng ngân sách để thực hiện các quan hệ phân phối dưới hình thái giá trị các nguồn lực tài chính, bằng việc huy động một bộ phận thu nhập của xã hội dưới hình thức thuế và các hình thức động viên khác để đáp ứng các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của nhà nước.
Các quan điểm trên không có sự khác nhau nhiều, chúng đều thể hiện nội hàm của khái niệm N NN trên các góc độ khác nhau nhưng chưa đầy đủ do chỉ mô tả hình thức biểu hiện bên ngoài mà chưa phản ánh được nội dung kinh tế bên trong của N NN. Do vậy, cần xem xét N NN một cách tổng thể trên các phương diện. - Xét về mặt hình thức: N NN là một bản dự toán thu và chi do Chính phủ lập ra, đệ trình Quốc hội và giao cho Chính phủ thực hiện. - Xét về mặt thực thể: N NN bao gồm những nguồn thu cụ thể, những khoản chi cụ thể và được định lượng.
- Xét trong tổng thể một hệ thống tài chính thống nhất: N NN là khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia. 5 - Xét về các nội dung kinh tế chứa đựng trong hoạt động của N NN: các khoản thu - luồng nhập quỹ N NN, các khoản chi - nguồn xuất quỹ N NN là quá trình hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ của Nhà nước. Trong quá trình đó xuất hiện hàng loạt các quan hệ tài chính giữa một bên là Nhà nước với một bên là các chủ thể phân phối trong quá trình phân phối nguồn lực tài chính của một quốc gia. Như vậy, thực chất N NN là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của một quốc gia.
Ở nhiều quốc gia U - Mỹ, N NN được thực hiện với luật ngân sách thường niên. Tuy nhiên, ở Việt Nam chỉ có luật N NN cố định và được bổ sung các khoản thu chi theo yêu cầu tăng trưởng kinh tế của các năm kế hoạch. Việc bổ xung này là Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định. - Bản chất của N NN: + Về phương diện pháp lý: N NN là một đạo luật dự trù các khoản thu, chi bằng tiền của Nhà nước trong thời gian ngắn nhất định thường là một năm.
Đạo luật này được cơ quan lập pháp của quốc gia đó ban hành. + Về bản chất kinh tế: N NN là hệ thống những mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội, phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu các chức năng của Nhà nước. Các quan hệ kinh tế này bao gồm: + Quan hệ kinh tế giữa N NN với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. + Quan hệ kinh tế giữa N NN với các đơn vị HC N.
+ Quan hệ kinh tế giữa N NN với các tầng lớp nhân dân + Quan hệ kinh tế giữa N NN và thị trường tài chính + Quan hệ kinh tế giữa N NN với các hoạt động tài chính đối ngoại Về tính chất: N NN là bảng tổng hợp các khoản thu, chi của Nhà nước, là mức động viên các nguồn tài chính vào tay Nhà nước, là các khoản cấp phát của Nhà nước cho các nhu cầu tiêu dùng và đầu tư phát triển, đó cũng là đóng góp theo nghĩa vụ hay tự 6 nguyện của mỗi thành viên trong xã hội cho Nhà nước và Nhà nước cấp phát kinh phí đầu tư cho mỗi thành viên xã hội.1 Hệ thống Ngân sách nhà nước 1.2 Quản lý chi ngân sách nhà nước[2]. Quản lý chi ngân sách nhà nước Quản lý chi ngân sách là quá trình phân phối lại quỹ tiền tệ tập trung một cách có hiệu quả nhằm thực hiện chức năng của nhà nước trên cơ sở sử dụng hệ thống chính sách, pháp luật. Chi ngân sách mới thể hiện ở khâu phân bổ ngân sách c n hiệu quả sử dụng ngân sách như thế nào thì phải thông qua các biện pháp quản lý. õ ràng quản lý chi ngân sách sẽ quyết định hiệu quả sử dụng vốn ngân sách.
Quản lý chi Ngân sách nhà nước là quá trình thực hiện có hệ thống các biện pháp phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung nhằm phục vụ chi tiêu cho bộ máy và thực hiện các chức năng của Nhà nước. Thực chất quản lý chi Ngân sách nhà nước là quá trình sử dụng các nguồn vốn chi tiêu của Nhà nước từ khâu lập kế hoạch đến khâu sử dụng ngân sách đó nhằm đảm bảo quá trình chi tiết kiệm và hiệu quả, phù hợp với yêu cầu của thực tế đang đặt ra theo đúng chính sách chế độ của nhà nước phục vụ các mục tiêu KT-XH. 7 Vấn đề quan trọng trong quản lý chi Ngân sách nhà nước là việc tổ chức quản lý giám sát các khoản chi sao cho tiết kiệm và có hiệu quả cao, muốn vậy cần phải quan tâm các mặt sau: – Quản lý chi phải gắn chặt với việc bố trí các khoản chi làm cơ sở cho việc quản lý xây dựng quy chế kiểm tra, kiểm soát. – Bảo đảm yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả trong việc bố trí và quản lý các khoản chi tiêu ngân sách nhà nước.
– Quản lý chi phải thực hiện các biện pháp đồng bộ, kiểm tra giám sát trước, trong và sau khi chi. – Phân cấp quản lý các khoản chi cho các cấp chính quyền địa phương và các tổ chức trên cơ sở phải phân biệt rõ nhiệm vụ phát triển T-XH của các cấp theo luật ngân sách để bố trí các khoản chi cho thích hợp. – Quản lý chi ngân sách phải kết hợp quản lý các khoản chi ngân sách thuộc vốn nhà nước với các khoản chi thuộc nguồn của các thành phần kinh tế để tạo ra sức mạnh tổng hợp, nâng cao hiệu quả chi. Quản lý chi ngân sách nhà nước là hoạt động không thể thiếu ở mọi quốc gia, hoạt động này không chỉ giúp tiết kiệm những khoản chi không cần thiết mà c n hạn chế tình trạng thâm hụt ngân sách, tham ô, đục khoét.
Nội dung chi ngân sách cho sự nghiệp Văn hóa Chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp văn hóa là một trong các khoảng cho thuộc nhiệm vụ chi thường xuyên của ngân sách nhà nước với mục tiêu nâng cao tri thức và thẩm mỹ cho mọi tâng lớp nhân dân nhằm xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, có nội dung nhân đạo, dân chủ và tiến bộ, phát triển đạo đức xã hội và truyền thống dân tộc. Và thể hiện có hiệu quả các hoạt động văn hóa nghệ thuật, nhà nước ta cần đầu tư một khoản ngân sách rất lớn cho hoạt động này với các nội dung được quy định cụ thể đó là: chi hệ thống bảo tồn, bảo tàng, thư viện, nhà văn hóa, cho cho các hoạt động sáng tạo văn hóa nghệ thuật, các hoạt động biểu diễn nghệ thuật và các hoạt động văn hóa khác, cho cho các chương trình quốc gia về văn hóa…. Chi ngân sách cho sự nghiệp TDTT Ngân sách nhà nước đầu tư cho sự nghiệp TDTT cũng đang chiếm một tỷ trọng lớn trong các mục chi của ngân sách nhà nước. Theo thống kê các khoản chi thường tập 8 chung vào các danh mục: Chi cho đầu tư cơ sở hạn tầng, chi cho thể thao thành tích cao, chi cho đào tạo vận động viên, cho cho phát triển thể thao quần chúng, chi cho hoạt động khoa học TDTT.3 Văn hóa Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con người.
Văn hóa bao gồm cả khía cạnh, khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các phương tiện,… cả khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là 1 phần của văn hóa. Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. ong, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội, văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hoạt động và tương tác xã hội của con người.
Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội, được biểu hiện trong các kiểu hình thức tổ chức đời sống và hoạt động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra. Chức năng của văn hóa: - Chức năng giáo dục: Là chức năng mà văn hóa thông qua các hoạt động, các sản phẩm của mình nhằm tác động một các có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của con người, làm cho con người dần dần có những phẩm chất và năng lực theo những chuẩn mực xã hội đề ra. Văn hóa thực hiện chức năng giáo dục không chỉ bằng những giá trị đã ổn định là truyền thống văn hóa mà c n bằng cả những giá trị đang hoàn thành. Các giá trị này tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới.
Nhờ vậy, văn hóa đóng vai tr quan trọng trong việc hoàn thành nhân cách ở con người, trong việc “ trồng người”. Văn hóa tạo nên sự phát triển liên tục của lịch sử mỗi dân tộc cũng như lịch sử nhân loại.