Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ XÃ VÔ TRANH 1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên Xã Vô Tranh nằm ở phía Đông Nam của huyện Phú Lương, cách thành phố Thái Nguyên khoảng 10km về phía Tây Bắc. Phía bắc giáp với xã Tức Tranh, phía nam giáp với xã Cổ Lũng và Sơn Cẩm. Phía đông với xã Minh Lập của huyện Đồng Hỷ, phía tây giáp với thị trấn Giang Tiên và xã Phấn Mễ.
Đến năm 2015, xã Vô Tranh bao gồm 25 đơn vị hành chính cấp xóm, đó là các xóm: Liên Hồng 1, Liên Hồng 2, Liên Hồng 3, Liên Hồng 4, Liên Hồng 5, Liên Hồng 6, Liên Hồng 7, Liên Hồng 8. Thống Nhất 1, Thống Nhất 2, Thống Nhất 3 và Thống Nhất 4 Trung Thành 1, Trung Thành 2, Trung Thành 3 và Trung Thành 4 Tân Bình 1, Tân Bình 2, Tân Bình 3 và Tân Bình 4 Cầu Bình 1 và Cầu Bình 2 Toàn Thắng Bình Long Xóm 1/5 Vô Tranh có diện tích tự nhiên 1. Độ cao trung bình từ 100m đến 180m, địa hình nghiêng theo hướng Tây Bắc xuống Đông Nam. Núi ở Vô Tranh không cao, chỉ có dãy núi Lim xếp theo hình vòng cung, án ngữ ở phía Tây Bắc của xã.
Phía Tây Nam có dãy núi Trà Lâu và Đồng Ben. Đây là dãy núi có ngọn cao nhất ở địa phương, còn chủ yếu là đồi gò lô nhô như bát úp (chiếm 70% diện tích tự nhiên của toàn xã) mang đặc điểm nổi bật của địa hình đồi núi trung du phía Bắc Bắc Bộ. Cấu tạo thổ nhưỡng của Vô 10 Tranh chủ yếu là đất thịt pha sét của vùng đồi. Đất ở đây lẫn nhiều chất sắt nên có màu vàng.
Ngoài đất đồi, ở các bãi soi ven sông của xã còn có một lượng đất phù sa do sông Cầu bồi đắp. Đất canh tác nông nghiệp của toàn xã chiếm tới 1. Trong đó đất trồng lúa 2 vụ chiêm 628 ha nằm ở vùng thấp và xen trong các hẻm đồi, trên gò. Diện tích lúa mùa là 300ha, lúa chiêm là 328 ha.
Đất trồng hoa màu chỉ vào khoảng gần 100 ha. Riêng đất trồng cây chè chiếm tới 600 ha gần bằng một nửa diện tích đất nông nghiệp. Cây chè không yêu cầu nghiêm ngặt về đất, song cây chè thích hợp trên đất nhiều mùn, tơi xốp có tầng canh tác dày trên 50 cm, độ dốc bình quân không quá 25°. Đất trồng chè phần lớn là đất đỏ vàng feralit (tích lũy sắt, nhôm) phát triển trên đá granit, gnai, phiến thạch sét và mica.
Đất chua, nghèo chất hữu cơ, hàm lượng dinh dưỡng NPK tổng số, dễ tiêu và các chất dinh dưỡng trung và vi lượng đều nghèo. Khác với một số loại cây trồng khác, cây chè ưa đất có phản ứng chua (pH 5,0 đến 5,5) để thuận tiện cho quá trình hấp thu tốt nhất dinh dưỡng khoáng của cây. Đất trồng cây ăn quả gồm vải, nhãn là 100 ha, còn lại là đất ở, đất thủy lợi và đất nuôi thủy sản. Khi xưa, rừng của xã Vô Tranh nhiều gỗ quý hiếm như đinh, lim, sến táu và nhiều giống thú quý như hổ, báo, hươu, nai, chồn cáo cùng nhiều loại chim như gà rừng, cu gáy,.
Trong những năm kháng chiến, rừng Vô Tranh là nơi cất giấu vũ khí, che chở cho dân làng, kho tàng và bộ đội. Đã có thời kỳ dọc theo các bìa rừng ‘‘Đường Gòng” dài hơn 5km của xã là nơi cất giấu những téc xăng của quốc phòng, những bộ phận máy móc của các nước Liên Xô, Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam. Do con người và chiến tranh tàn phánên tài nguyên rừng hầu như cũng cạn kiệt. Hiện nay, chủ yếu là rừng tái sinh.
Vô Tranh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nắng lắm mưa nhiều. Do vị trí địa lý nên nơi đây chia thành 4 mùa xuân, hạ, thu, đông rất rõ rệt. Nền nhiệt trung bình hàng năm vào khoảng 20 đến 250C, mùa đông nhiều khi xuống 11 đến 180C thậm chí có khi còn xuống 7 đến 80C. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1800mm đến 2000mm.
Độ ẩm trung bình khoảng 75%. Vô Tranh có sông Cầu chảy qua phía đông của xã, đồng thời cũng là ranh giới tự nhiên giữa Vô Tranh với xã Minh Lập của huyện Đồng Hỷ. Chỉ chảy ven theo xã chừng 4km, nhưng giá trị của sông Cầu khá quan trọng với người dân nơi đây. Ngoài việc cấp nước cho sinh hoạt, cho tưới tiêu trong nông nghiệp, sông Cầu còn là đường giao thông nối các xã trong vùng phía đông Phú Lương với xã Minh Lập (Đồng Hỷ) xuôi về Sơn Cẩm về thành phố Thái Nguyên.
Sông Cầu cùng các khe, suối, ao hồ của xã có diện tích mặt nước khá lớn, tiện lợi cho nuôi trồng thủy hải sản, là nơi cung cấp một lượng nước lớn cho nhân dân trong vùng sản xuất nông nghiệp. Chế độ thủy văn ở đây thay đổi theo mùa rất rõ rệt. Mực nước của sông, suối, ao hồ lên xuống phụ thuộc vào chế độ mưa hàng năm. Nước thường lên cao về mùa hạ gây ra lũ lụt, mùa đông khô cạn gây ra hạn hán.
điều đó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến canh tác nông nghiệp và đời sống của nhân dân địa phương. Vô Tranh không có quốc lộ chạy qua, nhưng cách quốc lộ 3 khoảng 2km. Đường giao thông từ Giang Tiên nối quốc lộ 3 với trung tâm xã đã được nhựa hóa từ khá sớm, thuận tiện cho việc đi lại và giao lưu buôn bán của người dân. Tuy nhiên, do đường còn hẹp, kết cấu vật liệu chưa đáp ứng yêu cầu hiện tại nên cần được sửa chữa và nâng cấp.
Xã Vô Tranh có 54,86km đường giao thông. Trục đường liên xã 12km đã được nhựa hóa đạt trên 50%. Tuy nhiên đường trong thôn xóm có 32km mới cứng hóa được 2,3km đạt 0,71%. Đường nội đồng chủ yếu là đường đất còn khoảng 38km rất khó khăn cho việc đi lại của bà con trong xã.
Ngay đường trong 8 xóm Liên Hồng hiện tại còn hẹp, bởi vậy vấn đề giao thông trong xã còn nhiều hạn chế cần khắc phục. Đặc điểm kinh tế, xã hội 1. Đặc điểm kinh tế Nông nghiệp trồng lúa nước chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế xã Vô Tranh. Tổng diện tích gieo trồng năm 2012: 612ha đạt 100% kế hoạch, đạt 96,6% so với cùng kỳ năm 2011.
Tổng sản lượng lương thực cây có hạt: 3.216,4 tấn đạt 101,6% kế hoạch, đạt 96% so với năm 2011. Trong đó: Về diện tích cấy lúa năm 2012: 512ha đạt 100 % kế hoạch, đạt 97 % so với cùng kỳ, sản lượng cả năm 2.846 tấn đạt 103,3% , đạt 101% so với năm 2011. Diện tích lúa xuân 228ha, năng suất đạt 57,6 tấn, sản lượng 1. Diện tích lúa mùa 284ha, năng suất đạt 52,5, sản lượng đạt 1.
Thực hiện nhiệm vụ năm 2013 theo Nghị quyết kỳ họp thứ 6 Hội đồng nhân dân xã, trong bối cảnh chung của nền kinh tế bị suy giảm, hộ sản xuất, kinh doanh gặp nhiều khó khăn, tình hình thiên tai, dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp; trước tình hình đó, UBND xã đã tập trung chỉ đạo triển khai đồng bộ các giải pháp trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá xã hội, nội chính, đẩy mạnh cải cách hành chính theo cõ chế ‘Một cửa’, phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, xây dựng nông thôn mới Sản lượng lương thực cây có hạt đạt 2.899 tấn đạt 97,2% kế hoạch giao, đạt 90,1% so với cùng kỳ. vụ xuân gieo xạ 100ha đạt 44%, cấy 128ha đạt 56%. Lúa thuần 203 ha, lúa lai 25 ha. Năng suất bình quân đạt 54,72 tạ/ha, sản lượng đạt 1.248 tấn vụ mùa diện tích 281,13 ha, năng suất đạt 48,05 tạ /ha, sản lượng đạt 1.
Trong năm tình hình thời tiết có nhiều diễn biến phức tạp, mưa lớn kéo dài liên tiếp xảy ra do ảnh hưởng của các cơn bão, 45 ha lúa bị mất trắng và nhiều nhà bị tốc mái, trước tình hình đó UBND xã đã tập trung chỉ đạo đảm bảo an toàn, hạn chế thiệt hại và khắc phục kịp thời các hậu quả gây ra, các công trình thuỷ lợi đã được khắc phục sửa chữa, nâng 13 cấp, vừa phát huy hiệu quả chống lũ, vừa phục vụ tưới tiêu cho sản xuất và nuôi trồng thuỷ sản; diện tích nuôi trồng thủy sản 38 ha (Trong đợt mưa bão đã bị thiệt hại 16 ha hiện tại còn 22ha, sản lượng 24,3 tấn đạt 80% kế hoạch giao). Xã Vô Tranh có điều kiện phát triển kinh tế, đất phù sa, đất pha cát phù hợp trồng lúa, đất đỏ bazan, đất ferarit thuận lợi phát triển cây chè. Ngoài ra còn phù hợp phát triển các cây trồng khác (xem bảng 1.1: Tình hình sử dụng đất đai của xã năm 2013 Chỉ tiêu Số lượng (ha) Cơ cấu (%) Tổng diện tích đất tự nhiên 1837,60 100 Đất nông nghiệp 1461,05 79,5 % Đất trồng cây hàng năm 362,24 19,7% Đất trồng cây lâu năm 761,90 41,5% Ao hồ thủy sản 33,10 1,8% Đất lâm nghiệp 303,81 16,5% Đất phi nông nghiệp 375,09 20,5% Đất ở 82,33 4,5% Đất chuyên dùng 223,40 12% Đất chưa sử dụng 1,46 0,08% (Nguồn: Văn phòng UBND xã cung cấp) Qua bảng trên cho thấy đến năm 2013 diện tích đất tự nhiên có 1.838 ha bao gồm đất nông nghiệp 1.461 ha chiếm gần 80% diện tích trong đó đất trồng cây lâu năm chiếm 761 ha chiếm trên 40% tổng diện tích; đất phi nông nghiệp chiếm 20%; đất lâm nghiệp chiếm 16,5%; đất chuyên dùng chiếm 12%, còn lại là đất khác như đất ở, đất nuôi thủy sản, đất chăn nuôi gia súc, gia cầm,… và phần còn lại chưa sử dụng chiếm 0,08%. 14 Theo thông kê đến năm 2015, xã có 2.367 hộ với trên 8.000 nhân khẩu chủ yếu tập trung ở nông thôn.
sản xuất nông nghiệp có nhiều bước phát triển và đạt được nhiều thành tựu Sản lượng lương thực cây có hạt đạt 2.700 tấn đạt 90% so với cùng kỳ. Sản lượng chè búp tươi ước đạt 6.333 tấn chè búp khô (100% kế hoạch), diện tích chè trồng mới và trồng lại 55ha/40ha đạt 137% kế hoạch huyện giao, trong đó chè trồng mới 02 ha, chè trồng lại 53ha. Tỷ lệ độ che phủ rừng ổn định ở mức 18%. Diện tích trồng rừng sản xuất là 15 ha đạt 100% kế hoạch giao, tổng sản lượng gỗ khai thác ước đạt 400m3 đạt 100% kế hoạch.
Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 531.000đ đạt 112,08% kế hoạch năm 2014. Tạo việc làm mới cho 150/110 lao động đạt 136% kế hoạch giao, số lao động xuất khẩu trong năm 9/8 đạt 112%, tổng số lao động được đào tạo nghề trong năm 80/80 đạt 100%. Công tác giảm nghèo: Giảm tỷ lệ hộ nghèo 2,21% so với kế hoạch giao (2,35%), không đạt so với chỉ tiêu giao. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo 100 người đạt 125% kế hoạch giao.