Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1. Khái niệm liên quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ 1. Hoạt động khoa học và công nghệ - đối tượng quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ 1. Khoa học Luật KH&CN (năm 2013) của nước ta định nghĩa: “Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy”[24].
Công nghệ Luật Khoa học và Công nghệ (năm 2013) của nước ta định nghĩa: “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”. Hoạt động khoa học và công nghệ Hoạt động KH&CN là tập hợp toàn bộ các hoạt động có hệ thống và sáng tạo nhằm phát triển kho tàng kiến thức liên quan đến con người, tự nhiên và xã hội, nhằm sử dụng những kiến thức đó để tạo ra những ứng dụng mới hỗ trợ đời sống và sinh hoạt. Các hoạt động của KH&CN bao gồm: nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ KH&CN, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển KH&CN. Trong đó: Nghiên cứu khoa học là hoạt động tìm hiểu, phát hiện các sự vật hiện tượng theo quy luật của tự nhiên rồi đưa ra các phương pháp để ứng dụng chúng vào thực tiễn đời sống xã hội.
8 Luan van Nghiên cứu hoạt động công nghệ là việc tạo ra, hoàn thiện các sản phẩm công nghệ mới qua các bước triển khai sản xuất và đưa vào trong thử nghiệm. Việc triển khai thử nghiệm của hoạt động công nghệ lại là sự ứng dụng của kết quả hoạt động nghiên cứu khoa học, qua đó lấy kết quả và rút ra biện pháp tạo ra sản phẩm công nghệ mới. Trước tiên sẽ phải sản xuất thử với quy mô nhỏ phạm vi bé, sau nhiều lần thí nghiệm rồi từ từ rút ra kinh nghiệm hơn, rồi từ đó mới đưa vào trong đời sống và sản xuất của con người. Như vậy, KH&CN là các hoạt động nhằm để phục vụ cho việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, các hoạt động của thông tin, đào tạo và ứng dụng tri thức KH&CN vào thực tiễn.
Theo Luật KH&CN (năm 2013) thì hoạt động KH&CN gồm: hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ KH&CN, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển KH&CN. Khái niệm quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ Khái niệm quản lý và hoạt động quản lý Quản lý là hoạt động mang tính tất yếu và phổ biến: Bản chất của con nguời là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Điều đó có nghĩa là con người không thể tồn tại và phát triển nếu không quan hệ và hoạt động với người khác. Khi con người cùng tham gia hoạt động với nhau thì tất yếu phải có một “ý chí điều khiển” hay là phải có tác nhân quản lý nếu muốn đạt tới trật tự và hiệu quả.
Mặt khác, con người thông qua hoạt động để thỏa mãn nhu cầu mà thỏa mãn nhu cầu này lại phát sinh nhu cầu khác, vì vậy con người phải tham dự vào nhiều hình thức hoạt động với nhiều loại hình tổ chức khác nhau. Chính vì vậy, hoạt động quản lý tồn tại như một tất yếu ở mọi loại hình tổ 9 Luan van chức khác nhau, trong đó tổ chức kinh tế chỉ là một trong những loại hình tổ chức cơ bản của con người. Hoạt động quản lý: Biểu hiện mối quan hệ giữa con người với con người. Thực chất của quan hệ giữa con người với con người trong quản lý là quan hệ giữa chủ thể quản lý (người quản lý) và đối tượng quản lý (người bị quản lý).
Còn hoạt động quản lý dù ở lĩnh vực hoặc cấp độ nào cũng là sự biểu hiện của mối quan hệ giữa con người với con người. Vì vậy, tác động quản lý (mục tiêu, nội dung, phương thức quản lý) có sự khác biệt so với các tác động của các hoạt động khác. Quản lý là tác động có ý thức: Tác động quản lý (mục tiêu, nội dung và phương thức) của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý phải là tác động có ý thức, nghĩa là tác động bằng tình cảm (tâm lý), dựa trên cơ sở tri thức khoa học (khách quan, đúng đắn) và bằng ý chí (thể hiện bản lĩnh). Có như vậy chủ thể quản lý mới gây ảnh hưởng tích cực tới đối tượng quản lý.
Quản lý là tác động bằng quyền lực: Quyền lực được biểu hiện thông qua các quyết định quản lý, các nguyên tắc quản lý, các chế độ, chính sách. Thông qua quyền lực mà chủ thể quản lý mới đảm trách được vai trò của mình là duy trì kỷ cương, kỷ luật và xác lập sự phát triển ổn định, bền vững của tổ chức. Điều chú ý là cách thức sử dụng quyền lực của chủ thể quản lý có ý nghĩa quyết định tính chất, đặc điểm của hoạt động quản lý, văn hóa quản lý, đặc biệt là của phong cách quản lý. 10 Luan van Quản lý là tác động theo quy trình: Tác nghiệp của nó còn hoạt động quản lý được tiến hành theo một quy trình bao gồm: Lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra.
Đó là quy trình chung cho mọi nhà quản lý và mọi lĩnh vực quản lý. Được gọi là các chức năng cơ bản của quản lý và mang tính “kỹ thuật học” của hoạt động quản lý. Quản lý là hoạt động để phối hợp các nguồn lực: Thông qua tác động có ý thức, bằng quyền lực, theo quy trình mà hoạt động quản lý mới có thể phối hợp các nguồn lực bên trong và bên ngoài tổ chức. Các nguồn lực được phối hợp bao gồm: nhân lực, vật lực, tài lực và tin lực.
Nhờ phối hợp các nguồn lực đó mà quản lý trở thành tác nhân đặc biệt quan trọng trong việc tạo nên hợp lực chung trên cơ sở những lực riêng, tạo nên sức mạnh tổng hợp trên cơ sở những sức mạnh của các bộ phận nhằm hoàn thành mục tiêu chung một cách hiệu quả mà từng cá nhân riêng lẻ hay các bộ phận đơn phương không thể đạt tới. Quản lý nhằm hướng tới thực hiện mục tiêu chung: Hiệu quả của các hoạt động cụ thể được đo bằng kết quả cuối cùng mà nó mang lại nhằm thỏa mãn nhu cầu của chủ thể đến mức độ nào, còn hoạt động quản lý ngoài việc thỏa mãn nhu cầu riêng của chủ thể thì điều đặc biệt quan trọng là phải đáp ứng lợi ích của đối tượng. Nó là hoạt động vừa phải đạt được hiệu lực, vừa phải đạt được hiệu quả. [15] Quản lý là hoạt động vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật: Tính khoa học của hoạt động quản lý thể hiện ở chỗ các nguyên tắc quản lý, phương pháp quản lý, các chức năng của quy trình quản lý và các quyết định quản lý phải được xây dựng trên cơ sở những tri thức, kinh nghiệm mà nhà quản lý có được thông qua quá trình nhận thức và trải nghiệm trong thực tiễn.
Điều đó có nghĩa là, nội dung của các tác động quản lý phải phù hợp với điều kiện khách quan của môi trường và năng lực hiện có của tổ chức 11 Luan van cũng như xu hướng phát triển tất yếu của nó. Hoạt động quản lý được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực, thông qua 4 chức năng cơ bản đó là: - Hoạch định, xây dựng dự toán hay kế hoạch; - Tổ chức thực hiện kế hoạch; - Tổ chức kiểm tra, kiểm soát; - Điều chỉnh, ra quyết định. Tùy thuộc vào nội dung, đối tượng quản lý khác nhau mà từng nội dung của chức năng trên thể hiện là khác nhau và phải tuân thủ theo quy định của pháp luật. [15] Khái niệm quản lý nhà nước Hiểu một cách chung nhất, quản lý nhà nước là sự quản lý của nhà nước đối với xã hội và công dân và là dạng quản lý xã hội đặc biệt.
Đó là sự chỉ huy điều hành để thực thi quyền lực nhà nước; là tổng thể và thể chế, pháp luật, quy tắc, về tổ chức cán bộ của bộ máy nhà nước; do tất cả các cơ quan nhà nước – lập pháp, hành pháp và tư pháp – có tư cách pháp nhân tiến hành bằng các văn bản quy phạm pháp luật, tổ chức, điều hành và kiểm tra, kiểm soát để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn mà nhà nước đã giao trong quá trình tổ chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của công dân.[14] Tuy nhiên, ở đây khái niệm quản lý nhà nước được hiểu theo nghĩa hẹp hơn và đồng nghĩa với quản lý hành chính nhà nước. Đó là sự thực thi quyền hành pháp của nhà nước; là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật của Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước, do các cơ quan trong hệ thống hành chính từ trung ương đến cơ sở tiến hành. Quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ Quản lý nhà nước về KH&CN là dạng quản lý mà trong đó, chủ thể quản lý chính là nhà nước. Đó là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước bộ máy hành chính nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người trong lĩnh vực hoạt động KH&CN.
Đặc điểm quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ Quản lý nhà nước về KH&CN mang các đặc điểm chung của quản lý nhà nước. Thứ nhất, quản lý nhà nước là những hoạt động dựa trên pháp luật và quyền lực của nhà nước: tính quyền lực của nhà nước được xem là yếu tố nhằm giúp chúng ta phân biệt được quản lý nhà nước cũng như các hoạt động quản lý mang tính xã hội khác. Quyền lực của nhà nước được thể hiện rõ ràng nhất thông qua các văn bản hành chính, các văn bản này thể hiện được những ý chí và quyết tâm của người quản lý nhà nước.