Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN MẠNG LƯỚI THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1. Một số vấn đề lý luận về Mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ 1. Thông tin khoa học và công nghệ 1. Thông tin Có rất nhiều cách hiểu về thông tin, tại các từ điển cũng không có một định nghĩa thống nhất: theo từ điển Oxford English Dictionary định nghĩa thông tin là điều mà người ta đánh giá hoặc nói đến, là tri thức, tin tức; Một số từ điển thì đơn giản đồng nhất thông tin với kiến thức–thông tin là điều mà người ta biết, hoặc thông tin là sự chuyển giao tri thức làm tăng thêm sự hiểu biết của con người,… Trong cuốn “Bùng nổ truyền thông”, từ Latin “Informatio”, gốc của từ hiện đại “Information” (thông tin) cho rằng, thuật ngữ thông tin có thể hiểu theo hai hướng nghĩa: thứ nhất, thông tin là nói về một hành động cụ thể để tạo ra một hình dạng; thứ hai, thông tin là nói về sự truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm hay một biểu tượng [19].
Theo nghĩa thông thường thì thông tin là tất cả các sự kiện, sự việc, ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người, thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp. Theo quan điểm triết học, thông tin là sự phản ánh của tự nhiên và xã hội (thế giới vật chất) bằng ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh…hay nói rộng hơn bằng tất cả các phương tiện tác động lên giác quan của con người. Trong hoạt động của con người thông tin được thể hiện qua nhiều hình thức như: con số, chữ viết, âm thanh, hình ảnh v. Thông tin có nhiều mức độ chất lượng khác nhau.
Các số liệu, dữ kiện ban đầu thu thập được qua điều 7 tra, khảo sát là các thông tin nguyên liệu, còn gọi là dữ liệu (data). Từ các dữ liệu đó qua xử lý, phân tích, tổng hợp sẽ thu được những thông tin có giá trị cao hơn, gọi là thông tin có giá trị gia tăng (value added information). Ở mức độ cao hơn nữa là các thông tin quyết định trong quản lý và lãnh đạo - kết quả xử lý của những nhà quản lý có năng lực và kinh nghiệm, các thông tin chứa đựng trong các quy luật khoa học - kết quả của những công trình nghiên cứu, thử nghiệm của các nhà khoa học và chuyên môn. Như vậy thông tin là kết quả của sự phân tích, tổng hợp và đánh giá dựa trên những dữ liệu có sẵn để phục vụ nhu cầu của người dùng tin.
Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động có thể chia thông tin thành các loại thông tin về chính trị, thông tin về kinh tế, thông tin văn hóa xã hội, thông tin khoa học kỹ thuật, thông tin về tự nhiên môi trường, thông tin về an ninh quốc phòng. Ở trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn thông tin được hiểu là những số liệu, dữ kiện, tin tức được lưu giữ trên những vật mang tin khác nhau phản ánh bản chất sự vật, hiện tượng có thể được phân tích, tổng hợp và được chuyển tải tới người tiếp nhận thông qua một phương tiện nào đó. Thông tin khoa học và công nghệ Theo PGS. Nguyễn Hữu Hùng trong nghiên cứu “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thông tin khoa học” nhận định rằng: khái niệm về thông tin KH&CN và hoạt động thông tin KH&CN vẫn còn trong giai đoạn tìm tòi và sự phát triển, ở đó nhiều vấn đề lý luận vẫn chưa được hoàn toàn chấp nhận và đôi khi nhiều ý kiến vẫn còn mâu thuẫn với nhau [6,tr.
Thông tin KH&CN được định nghĩa là các “thông tin về các tài liệu, sự vật, sự kiện, hiện tượng, quá trình thu nhận được trong kết quả của công tác hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới và các hoạt động nghề nghiệp” [7]. Nghị định 159/2004/NĐ-CP ngày 31/08/2004 về hoạt động thông tin KH&CN định nghĩa “Thông tin KH&CN là các dữ liệu, số liệu, dữ kiện, tin 8 tức, tri thức KH&CN (bao gồm khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn) được tạo lập, quản lý và sử dụng nhằm mục đích cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước hoặc đáp ứng nhu cầu của tổ chức, cá nhân trong xã hội”, ở đây việc sử dụng và quản lý thông tin KH&CN như một dịch vụ công ích, trong khi đồng nhất giữa thông tin KH&CN với tri thức KH&CN [2]. Do mục tiêu chính của Luận văn là đề xuất giải pháp nhằm phát triển Mạng lưới thông tin KH&CN nên tác giả Luận văn không đi sâu vào khảo sát, trình bày về học thuật các khái niệm cơ bản có liên quan mà tập trung đề cập các khái niệm quan trọng đã được chấp nhận một cách chính tắc, được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành ở nước ta từ khi có Luật KH&CN năm 2013. Ở đây khái niệm thông tin KH&CN, nguồn tin KH&CN, hoạt động thông tin KH&CN được hiểu theo Nghị định số 11/2014/NĐ-CP ngày 18/02/2014 của Chính phủ về hoạt động thông tin KH&CN, các khái niệm được hiểu như sau: “Thông tin KH&CN là dữ liệu, dữ kiện, số liệu, tin tức, được tạo ra trong các hoạt động KH&CN, đổi mới sáng tạo.
Thông tin KH&CN vừa là nguồn lực của sự phát triển, vừa là của cải, tài sản của xã hội, là yếu tố không thể thiếu trong quá trình sản sinh ra các sản phẩm KH&CN, phục vụ đắc lực cho công tác quản lý, giảng dạy, học tập, nghiên cứu và phát triển KT-XH. “Nguồn tin KH&CN là các thông tin KH&CN được thể hiện dưới dạng sách, báo, tạp chí khoa học; kỷ yếu hội nghị, hội thảo khoa học; thuyết minh nhiệm vụ, báo cáo kết quả thực hiện, ứng dụng kết quả nhiệm vụ kKH&CN; tài liệu sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; catalô công nghiệp; luận án khoa học; tài liệu thiết kế, kỹ thuật; CSDL; trang thông tin điện tử; tài liệu thống kê KH&CN; tài liệu đa phương tiện và tài liệu trên các vật mang tin khác” [3]. 9 Thông tin KH&CN được thu thập từ 02 nguồn: nguồn tin KH&CN nội sinh (là nguồn tin được sản sinh dựa trên sức lực trí tuệ và vật chất của một quốc gia) và nguồn tin KH&CN ngoại sinh (chủ yếu được nhập từ nước ngoài qua mua sắm, trao đổi, hoặc biếu tặng.) “Hoạt động thông tin KH&CN là hoạt động dịch vụ KH&CN bao gồm các hoạt động liên quan đến thu thập, xử lý, phân tích, lưu giữ, tìm kiếm, phổ biến, sử dụng, chia sẻ và chuyển giao thông tin KH&CN, các hoạt động khác có liên quan” [3]. Hoạt động thông tin KH&CN phải tuân theo các nguyên tắc sau: Chính xác, khách quan, đầy đủ, kịp thời và đáp ứng yêu cầu của tổ chức, cá nhân về chất lượng, khối lượng sản phẩm, dịch vụ thông tin KH&CN.
Hiệu quả trong việc khai thác, sử dụng và quản lý thông tin KH&CN phục vụ quản lý nhà nước, phát triển KT-XH, bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế của đất nước. Bảo đảm quyền của các tổ chức, cá nhân được tiếp cận thông tin KH&CN phù hợp với quy định của pháp luật. Tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo mật thông tin KH&CN. Kết hợp chặt chẽ hoạt động thông tin KH&CN với hoạt động nghiệp vụ thư viện, lưu trữ, thống kê, truyền thông KH&CN.
Các loại hình hoạt động thông tin KH&CN bao gồm: thu thập, cập nhật và xử lý các dữ liệu, số liệu, dữ kiện, thông tin nhằm tạo lập và phát triển nguồn tin KH&CN; Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp thông tin KH&CN phục vụ cho dự báo, hoạch định chính sách, lãnh đạo, quản lý, NCKH và PTCN, sản xuất, kinh doanh và các hoạt động KT-XH khác; Phát triển hạ tầng thông tin, xây dựng CSDL, các trang thông tin và cổng thông tin điện tử về KH&CN; thiết lập, triển khai các mạng thông tin KH&CN; ứng dụng CNTT 10 và truyền thông, phương tiện kỹ thuật tiên tiến trong hoạt động thông tin KH&CN; xây dựng thư viện điện tử, thư viện số; Tìm kiếm, tra cứu, chỉ dẫn, khai thác, sử dụng thông tin KH&CN; Cung cấp, trao đổi, chia sẻ các nguồn tin KH&CN; Phổ biến thông tin, tri thức KH&CN; Các hoạt động khác có liên quan… 1. Mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ 1.1 Khái niệm Mạng lưới Có nhiều khái niệm về Mạng lưới: Khái niệm mang tính vật chất (thường sử dụng trong điện, điện tử, tivi, radio, vi tính…) đề cập đến một hệ thống những mạch, dây dính với nhau và có mối liên hệ với nhau (ví dụ: mạng lưới đường xe lửa, mạng Radio, TV…). Khái niệm mang tính xã hội: Chỉ một nhóm mở rộng những người có cùng lợi ích hay mối quan tâm và giữa họ có sự tương tác và duy trì mối liên hệ không chính thức với nhau để giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau. Là hệ thống hỗ trợ, cung cấp một cấu trúc tạo sự thay đổi xã hội.
Các mạng lưới được hình thành do có mục tiêu chung hay sở thích chung và được duy trì thông qua một số dạng giao tiếp, thông tin liên lạc. Hầu hết các mạng lưới đều có mục tiêu đầu tiên là chia sẻ thông tin, trong khi một số khác có mục tiêu xa hơn là cải thiện mối quan hệ hợp tác giữa các cơ quan với nhau, bao gồm cùng lập kế hoạch, cùng triển khai hoạt động can thiệp và xây dựng chương trình làm việc chung. Xây dựng mạng lưới nhằm tạo mối liên kết, dưới dạng có tổ chức, giữa những người biết nhau nhằm mục tiêu riêng biệt, trong đó người tham gia xác định là hết lòng cho mục tiêu mà không mong đợi có gì đó nhận trở lại cho mình. Như vậy ở đây mạng lưới được hiểu là một hệ thống tập hợp các tổ chức gồm nhiều cơ quan/đơn vị có một chức năng chung và cùng có mục tiêu chung.
Mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ Mạng lưới thông tin là một tập hợp các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực thông tin bao gồm nhiều hình thức khác nhau, liên kết với nhau và cùng chung một mục tiêu, một định hướng cho đối tượng được cung cấp thông tin. Mạng lưới thông tin KH&CN sẽ là một tập hợp các tổ chức có cùng chức năng thông tin KH&CN với các hình thức hoạt động khác nhau được liên kết trong một hệ thống nhằm đạt mục tiêu là cung cấp được thông tin KH&CN chính xác, đầy đủ, kịp thời, đến tay người cần thông tin. Tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN là tổ chức triển khai thực hiện các hoạt động thông tin KH&CN; xây dựng, phát triển, vận hành và khai thác hạ tầng thông tin, CSDL về KH&CN.