Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỔI MỚI QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CHO HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1. Một số khái niệm về Khoa học và Công nghệ Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy. Hoạt động KH&CN là lĩnh vực rộng lớn liên quan đến toàn bộ những hoạt động về “nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ KH&CN, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển KH&CN” [1]. Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm [1].
Hoạt động khoa học và công nghệ là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ. Hoạt động khoa học nói chung là một quá trình sản xuất sản phẩm KH&CN. Do đó nó cũng có đầu vào và đầu ra. Quá trình sản xuất sản phẩm KH&CN này được thực hiện như sau: Đầu vào là: Cán bộ nghiên cứu, vốn Quá trình sản xuất: Tổ chức nghiên cứu KHCN Đầu ra là: Công trình nghiên cứu khoa học; Công trình nghiên cứu ứng dụng.
Giống như bất cứ quá trình sản xuất nào khác, quá trình sản xuất sản phẩm khoa học cũng cần có các đầu vào như lao động, đất đai, vốn. Hoạt động KH&CN được thực hiện bởi các cán bộ nghiên cứu, cần có vốn trên cơ sở công nghệ hiện có. Quá trình sản xuất sản phẩm KH&CN là quá trình tổ c 7 chức nghiên cứu. Đó là phối hợp các yếu tố đầu vào để triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học, bao gồm từ thu thập, xử lý thông tin, xây dựng các chi tiết công trình theo mục tiêu yêu cầu sản phẩm của đề cương nghiên cứu, tổ chức thu thập lấy ý kiến chuyên gia để hoàn thiện công trình và chuẩn bị cho nghiệm thu đánh giá.
Sản phẩm nghiên cứu là những công trình khoa học, những phát minh, sáng kiến, cải tiến, các quy trình công nghệ.Nó bao gồm sản phẩm nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. Mỗi loại sản phẩm này có những đặc điểm, đặc tính khác nhau và do đó, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả cũng có sự khác nhau. Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. [1] Phát triển công nghệ là hoạt động sử dụng kết quả nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, thông qua việc triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm để hoàn thiện công nghệ hiện có, tạo ra công nghệ mới.
Phát triển công nghệ bao gồm triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm. c 8 Tổ chức khoa học và công nghệ là tổ chức có chức năng chủ yếu là nghiên cứu khoa học, nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ, được thành lập và đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật [1]. Nhiệm vụ khoa học và công nghệ là những vấn đề khoa học và công nghệ cần được giải quyết để đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển khoa học và công nghệ [1]. Đặt hàng thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ là việc bên đặt hàng đưa ra yêu cầu về sản phẩm khoa học và công nghệ, cung cấp kinh phí để tổ chức, cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ tạo ra sản phẩm khoa học và công nghệ thông qua hợp đồng [1].
Đổi mới sáng tạo là việc tạo ra, ứng dụng thành tựu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa [1]. Nhìn chung, khoa học và công nghệ cấp tỉnh có thể được định nghĩa như sau: “Khoa học, công nghệ cấp tỉnh là hệ thống tri thức, cũng như giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật để biến đổi nguồn lực, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tối ưu hóa quá trình sản xuất và nghiên cứu phát triển của các tỉnh để phát huy tối đa nguồn lực nhằm phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh”. Một số khái niệm liên quan đến công tác quản lý tài chính Khoa học và Công nghệ Nội dung của Ngân sách Nhà nước bao gồm: Thu ngân sách nhà nước, chi ngân sách nhà nước và cân đối ngân sách nhà nước. Tài chính công là các hoạt động thu chi bằng tiền của Nhà nước; phản ánh hệ thống quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của Nhà nước nhằm phục vụ việc thực hiện các chức năng vốn có không nhằm mục tiêu thu lợi nhuận của Nhà nước đối với xã.
Tài chính công gắn liền với các hoạt động thu chi bằng tiền của Nhà nước; Phản c 9 ánh hệ thống quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị; Phản quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của Nhà nước (Quỹ ngân sách Nhà nước và các quỹ Tài chính ngoài ngân sách Nhà nước nhưng thuộc sở hữu Nhà nước); Công cung cấp hàng hoá công, dịch vụ công phục vụ cho lợi ích cộng đồng và xã hội không vì mục đích lợi nhuận; Là công cụ quan trọng cung cấp thông tin cho các chủ thể lập pháp và quản lý [2]. Tài chính công không chỉ thực hiện nghiên cứu các công cụ huy động nguồn lực để tài trợ nhu cầu chi tiêu công mà còn mở rộng ra hơn nghiên cứu chính sách sử dụng các công cụ thuế, tín dụng, chi tiêu công (thông qua các nghiệp vụ đầu tư và hỗ trợ tài chính cho các khu vực kinh tế¼) để nhà nước can thiệp một cách hữu hiệu vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội nhằm thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển theo định hướng của nhà nước [2]. Quản lý tài chính công: Quản lý Tài chính công là một nội dung của quản lý tài chính và là một mặt của quản lý xã hội nói chung, do đó trong quản lý Tài chính công, các vấn đề kể trên cũng là các vấn đề cần được nhận thức đầy đủ. Trong quản lý Tài chính công, các chủ thể quản lý có thể sử dụng nhiều phương pháp quản lý và nhiều công cụ quản lý khác nhau [2].
Phương pháp tổ chức: được sử dụng để thực hiện ý đồ của chủ thể quản lý trong việc bố trí, sắp xếp các mặt hoạt động của Tài chính công theo những khuôn mẫu đã định và thiết lập bộ máy quản lý phù hợp với các mặt hoạt động. Phương pháp hành chính: được sử dụng khi các chủ thể quản lý Tài chính công đòi hỏi phải được các khách thể quản lý tuân thủ một cách vô điều kiện. Đó là khi các chủ thể quản lý ra các mệnh lệnh hành chính. Phương pháp kinh tế: được sử dụng thông qua việc dùng lợi ích vật chất để kích thích tính tích cực của các khách thể quản lý, tức là tác động tới các tổ chức và cá nhân đang tổ chức các hoạt động Tài chính công.
Hệ thống pháp luật thuộc lĩnh vực Tài chính công: được sử dụng để quản lý và điều hành các hoạt động Tài chính công được xem như một loại c 10 công cụ quản lý có vai trò đặc biệt quan trọng. Trong quản lý Tài chính công, công cụ pháp luật được sử dụng thể hiện dưới các dạng cụ thể là các chính sách, cơ chế quản lý tài chính; các chế độ quản lý tài chính, kế toán, thống kê, các định mức, tiêu chuẩn về tài chính, mục lục Ngân sách Nhà nước. Cùng với pháp luật, hàng loạt công cụ phổ biến khác được sử dụng trong quản lý Tài chính công như: các đòn bẩy kinh tế, tài chính; Kiểm tra, thanh tra, giám sát: các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý Tài chính công. Mỗi công cụ kể trên có đặc điểm khác nhau và được sử dụng theo các cách khác nhau nhưng đều nhằm cùng một hướng là thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động Tài chính công nhằm đạt tới mục tiêu đã định.
Có thể có khái niệm tổng quát về quản lý Tài chính công như sau: Quản lý Tài chính công là hoạt động của các chủ thể quản lý Tài chính công thông qua việc sử dụng có chủ định các phương pháp quản lý và các công cụ quản lý để tác động và điều khiển hoạt động của Tài chính công nhằm đạt được các mục tiêu đã định. Nội dung quản lý tài chính công: Quản lý Tài chính công có nội dung đa dạng và phức tạp. Xét theo các bộ phận cấu thành các quỹ công, nội dung chủ yếu của quản lý Tài chính công bao gồm: quản lý Ngân sách Nhà nước và quản lý các quỹ Tài chính Nhà nước ngoài Ngân sách Nhà nước [2]. Vai trò của công tác quản lý tài chính đối với hoạt động KH&CN Cơ chế quản lý tài chính là tổng thể các phương pháp, công cụ và hình thức tác động lên một hệ thống để liên kết phối hợp hành động giữa các bộ phận thành viên trong hệ thống nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng của quản lý, quyết định sự thành công hay thất bại trong quản lý.
Cơ chế quản lý tài chính có vai trò rất quan trọng quyết định tới sự phát triển của các đơn vị. Quản lý tài chính là một bộ phận, một khâu của quản lý kinh tế xã hội và là khâu quản lý mang tính tổng hợp. Quản lý tài chính được coi là hợp lý, có hiệu quả nếu nó tạo ra được một cơ chế quản lý thích hợp, có tác động tích cực tới các quá trình kinh tế xã hội theo các phương hướng phát triển đã được c 11 hoạch định. Việc quản lý, sử dụng nguồn tài chính đối với Khoa học và Công nghệ có liên quan trực tiếp đến hiệu quả kinh tế xã hội do đó phải có sự quản lý, giám sát, kiểm tra nhằm hạn chế, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng trong khai thác và sử dụng nguồn lực tài chính đồng thời nâng cao hiệu quả việc sử dụng các nguồn tài chính.