CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ 1. Cơ sở lý luận về quản lý tài chính hoạt động khoa học công nghệ 1. Lý luận chung về hoạt động khoa học công nghệ 1. Khái niệm về hoạt động khoa học và công nghệ Theo Điều 3, Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 đưa ra các khái niệm liên quan đến hoạt động khoa học và công nghệ như sau: - Khái niệm về Khoa học: “Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy” (Luật Khoa học và Công nghệ, 2013).
- Khái niệm về Công nghệ: “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm” (Luật Khoa học và Công nghệ, 2013). - Khái niệm về Hoạt động khoa học và công nghệ: “Hoạt động khoa học và công nghệ là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ (Luật Khoa học và Công nghệ, 2013). Hoạt động khoa học và công nghệ là hoạt động có tính kế thừa và tích luỹ. Trong hoạt động khoa học và công nghệ, tri thức con người đi từ chỗ chưa biết đến biết, các tri thức trước là cơ sở, nền tảng để tìm hiểu các tri thức sau, các tri thức sau là sự kế thừa, phát triển các tri thức trước.
Đó là sự kế thừa của người đi sau với người đi trước, của hoạt động này với hoạt động khác và sự tự kế thừa, tích luỹ của từng chủ thể tiến hành hoạt động khoa học và công nghệ. Vai trò của hoạt động khoa học và công nghệ - Góp phần mở rộng khả năng sản xuất của nền kinh tế Khoa học công nghệ góp phần mở rộng khả năng sản xuất của nền kinh tế, khả năng sản xuất của nền kinh tế thể hiện một cách chung nhất là số lượng sản phẩm mà một nền kinh tế có thể cung ứng cho thị trường. Nếu là một nền kinh tế lạc hậu với trình độ khoa học công nghệ thấp kém thì chắc chắn khả năng sản xuất của nền kinh tế đó rất thấp. Khoa học và công nghệ có thể nối dài khả năng của con người trong việc chiếm lĩnh tự nhiên, do đó trình độ khoa học công nghệ cao đến đâu thì khả năng sản xuất của nền kinh tế sẽ tăng đến đó.
Dưới tác động của khoa học công nghệ, các nguồn lực của sản xuất sẽ được mở rộng. Điều này có thể thấy rõ dưới tác động của khoa học công nghệ, con người có thể mở rộng khả năng phát hiện, khai thác và đưa vào sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, kể cả tài nguyên tái sinh và không tái sinh. Dưới tác động của khoa học và công nghệ làm biến đổi chất lượng nguồn lao động theo hướng tiến bộ. Mặt khác, khoa học và công nghệ còn mở rộng khả năng huy động tập trung di chuyển các nguồn vốn một cách an toàn, chính xác và kịp thời.
Bên cạnh đó, khoa học và công nghệ tạo điều kiện thực hiện chiến lược phát triển kinh tế theo chiều rộng và chiều sâu. Khoa học và công nghệ phát triển với sự ra đời của các công nghệ mới (vật liệu mới, công nghệ sinh học, công nghệ điện tử) đã làm cho nền kinh tế phát triển theo chiều rộng; sự tăng trưởng kinh tế nhờ vào việc gia tăng các yếu tố đầu vào của sản phẩm sang phát triển theo chiều sâu, tức là tăng trưởng kinh tế dựa trên cơ sở nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào. Như vậy khoa học và công nghệ là phương tiện để chuyển nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp và kinh tế tri thức, trong đó phát triển nhanh ngành công nghệ cao và sử dụng nhiều lao động trí tuệ là đặc tính nổi bật. - Thúc đẩy quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành và chuyển dịch 8 cơ cấu kinh tế, trong đó khoa học công nghệ có vai trò đặc biệt quan trọng.
Bởi sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ không chỉ đẩy mạnh tốc độ phát triển các ngành mà còn làm cho phân công lao động xã hội ngày càng trở nên sâu sắc và đưa đến sự phân chia các ngành thành nhiều ngành nhỏ hơn, xuất hiện nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế mới. Từ đó làm thay đổi cơ cấu, vị trí giữa các ngành hay thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tỷ trọng trong GDP của các ngành công nghiệp và dịch vụ tăng dần, của ngành nông nghiệp giảm dần. Cơ cấu kinh tế trong nội bộ mỗi ngành cũng biến đổi theo hướng ngày càng tăng mạnh, quy mô sản xuất ở các ngành có hàm lượng kỹ thuật, công nghệ cao. Vai trò của lao động trí tuệ trong các ngành kinh tế ngày càng được coi trọng và trở thành đặc trưng phát triển khoa học công nghệ.
Chính sự phát triển của khoa học và công nghệ đã góp phần thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngày càng trở nên hợp lý hơn. - Góp phần làm tăng sức cạnh tranh của hàng hóa, thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường Điều này thể hiện rõ nét trong hoạt động của các doanh nghiệp trong kinh tế hàng hóa, mục tiêu cuối cùng của các doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận. Muốn vậy, họ phải tìm đến những mặt hàng có nhu cầu lớn, tối thiểu hóa chi phí các yếu tố đầu vào và nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến hình thức mẫu mã hàng hóa. Có thể nói rằng mục tiêu trên chỉ thực hiện được khi áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất kinh doanh.
Việc áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất không chỉ tạo ra lợi thế cạnh tranh mà còn tạo ra nhiều sản phẩm mới, vì thế quy mô sản xuất của doanh nghiệp được mở rộng, sự cạnh tranh về hàng hóa của doanh nghiệp tăng thêm. Riêng đối với nền kinh tế thị trường, việc ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ làm cho các yếu tố đầu vào của nền kinh tế như sức lao động, tư liệu sản xuất ngày càng hiện đại và đồng bộ hóa; quy mô của sản xuất ngày càng được mở rộng, thúc đẩy sự ra đời và phát triển các loại hình sản xuất mới. Mặt khác việc ứng dụng tiến bộ 9 khoa học và công nghệ còn tạo ra tính chất mới của nền kinh tế thị trường với đặc trưng tốc độ cao trong tất cả các hoạt động sản xuất và tiêu thụ hàng hóa; làm thay đổi chiến lược kinh doanh từ hướng nội, thay thế nhập khẩu sang hướng ngoại, hướng vào xuất khẩu, từ thị trường trong nước ra thị trường thế giới, tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. - Thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế Khoa học và công nghệ càng phát triển càng tạo ra năng lực sản xuất mới, năng suất lao động được nâng cao, tạo ra khối lượng sản phẩm lớn trong những khoảng thời gian ngắn.
Những yếu tố này thúc đẩy quá trình “toàn cầu hóa” nền kinh tế. Những thành tựu của công nghệ thông tin cho phép kết nối nhanh chóng các cấu trúc quy mô lớn của nền kinh tế khu vực, nền kinh tế toàn cầu. Thúc đẩy các tác động toàn cầu lan truyền với tốc độ nhanh, cường độ mạnh. Các hoạt động thương mại ngày càng mở rộng.
Hoạt động mua bán không chỉ hàng hóa “hữu hình” mà còn có nhiều loại hàng hóa mới như dịch vụ, các sản phẩm trí tuệ. Những lĩnh vực thương mại này đang ngày càng được mở rộng và tăng cường. Quản lý tài chính hoạt động khoa học công nghệ 1. Một số khái niệm liên quan a) Khái niệm Tài chính Tài chính là một phạm trù kinh tế, đồng thời cũng là một phạm trù lịch sử, nó ra đời, tồn tại và phát triển gắn với quá trình phát sinh và phát triển của nền kinh tế hàng hóa.
Mặt khác, tài chính còn gắn liền với sự xuất hiện của Nhà nước và trở thành một công cụ kinh tế quan trọng của các Nhà nước qua từng giai đoạn lịch sử khác nhau. Như vậy, sự tồn tại của nền kinh tế hàng hóa và Nhà nước là tiền đề cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của tài chính. - Theo tác giả Nguyễn Xuân Trường: Tài chính là quá trình phân phối các nguồn tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu của các chủ thể kinh tế. Hoạt động tài chính luôn gắn liền với sự vận động độc lập tương đối của các luồng giá trị dưới hình thái tiền tệ thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế (Nguyễn Xuân Trường, 2020).
10 - Theo tác giả Trần Quang Huy: Tài chính là các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị, phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm thoả mãn các nhu cầu của các chủ thể thực hiện hoạt động phân phối (Trần Quang Huy, 2015). Từ các khái niệm trên có thể hiểu: Tài chính là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính bằng việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu tích lũy và tiêu dùng của các chủ thể trong xã hội. Biểu hiện bên ngoài của tài chính là các hiện tượng thu, chi bằng tiền; có nội dung vật chất là các nguồn tài chính, các quỹ tiền tệ; có nội dung kinh tế bên trong là các quan hệ kinh tế, quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị hay quan hệ tài chính, nảy sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính nhằm tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ. Bản chất của tài chính là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn lực tài chính thông qua việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội nhất định của các chủ thể.
b) Khái niệm Quản lý Quản lý là hoạt động tồn tại trong mọi chế độ xã hội. Bất kỳ ở đâu, lúc nào con người có nhu cầu kết hợp với nhau để đạt mục đích chung đều xuất hiện hoạt động quản lý.