phần mở đầu và phần kết luận, luận văn có kết cấu nhƣ sau: - Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về tổ chức trung gian nhằm thƣơng mại hóa kết quả nghiên cứu ứng dụng - Chƣơng 2. Thực trạng sàn giao dịch công nghệ và thƣơng mại hóa kết quả nghiên cứu ứng dụng tại Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam - Chƣơng 3. Tổ chức và hoạt động của sàn giao dịch công nghệ ảo để thƣơng mại hóa kết quả nghiên cứu ứng dụng tại Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam 14 z CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC TRUNG GIAN NHẰM THƢƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG 1. Tổ chức trung gian hỗ trợ thƣơng mại hóa kết quả nghiên cứu 1. Dịch vụ chuyển giao công nghệ Dịch vụ CGCN (Technology Transfer Services) là một thuật ngữ dùng để chỉ các hoạt động liên quan đến môi giới CGCN, tƣ vấn CGCN, đánh giá công nghệ, định giá công nghệ, giám định công nghệ và xúc tiến CGCN. Theo khoản 12 điều 3 Luật CGCN: Dịch vụ CGCN là hoạt động hỗ trợ quá trình tìm kiếm, giao kết và thực hiện hợp đồng CGCN.
Trong định nghĩa này, có một thuật ngữ liên quan đƣợc coi là quan trọng, đó là xúc tiến CGCN là hoạt động thúc đẩy, tạo và tìm kiếm cơ hội CGCN; cung ứng dịch vụ quảng cáo, trƣng bày, giới thiệu công nghệ; tổ chức chợ, hội chợ, triển lãm công nghệ, trung tâm giao dịch công nghệ. Nhƣ vậy, dịch vụ CGCN gồm 3 hoạt động chính, đó là: - Hoạt động thúc đẩy, tạo và tìm kiếm cơ hội CGCN - Cung ứng dịch vụ quảng cáo, trƣng bày, giới thiệu công nghệ; - Tổ chức chợ, hội chợ, triển lãm công nghệ, trung tâm giao dịch công nghệ. Chất lƣợng của dịch vụ CGCN, có thể đánh giá thông qua các tiêu chí: 1. Mức độ dễ tiếp cận đối với tổ chức môi giới CGCN và các hình thức xúc tiến CGCN nhƣ cung ứng dịch vụ quảng cáo, trƣng bày, giới thiệu công nghệ; tổ chức chợ, hội chợ, triển lãm công nghệ, trung tâm giao dịch công nghệ.
Độ tin cậy của hoạt động đánh giá công nghệ, định giá công nghệ, giám định công nghệ, đây là tiêu chí rất quan trọng, bởi vì các hoạt động này đòi hỏi sự chính xác vì chúng có liên quan đến các yếu tố pháp luật, môi trƣờng. Quy chế, thủ tục dịch vụ CGCN dễ dàng, thuận lợi, giao dịch dịch vụ CGCN nhanh chóng, đáp ứng yêu cầu của bên cung công nghệ và bên cầu công nghệ khách hàng trong mọi tình huống. Năng lực của nhân viên thực hiện dịch vụ CGCN ở tất cả các loại hình dịch vụ CGCN, bao gồm: môi giới CGCN, tƣ vấn CGCN, đánh giá công nghệ, định giá công nghệ, giám định công nghệ và xúc tiến CGCN; 5. Giá cả dịch vụ CGCN phù hợp với thị trƣờng, với công nghệ đƣợc chuyển giao, xét cho cùng giá dịch vụ CGCN là một yếu tố tác động đến giá của công nghệ đƣợc chuyển giao, giá thành của sản phẩm áp dụng công nghệ đƣợc chuyển giao; 6.
Sự an toàn: đây là tiêu chí cao nhất đánh giá chất lƣợng của dịch vụ CGCN. Trƣớc hết đảm bảo tính bí mật của công nghệ đƣợc chuyển giao, trong trƣờng hợp công nghệ đƣợc chuyển giao là sáng chế thì ngoài phần các thông tin về sáng chế đƣợc bộc lộ công khai thì tổ chức thực hiện dịch vụ CGCN phải đảm bảo không tiết lộ bí mật về bí quyết (know-how) của công nghệ, đối với các sáng chế dƣợc phẩm còn phải đảm bảo bí mật về dữ liệu thử nghiệm, trong trƣờng hợp công nghệ đƣợc chuyển giao không đƣợc cấp patent (patent) thì tổ chức thực hiện dịch vụ CGCN phải giữ bí mật toàn bộ công nghệ. Tổ chức môi giới chuyển giao công nghệ Môi giới CGCN là hoạt động hỗ trợ bên cung công nghệ, bên cầu công nghệ trong việc tìm kiếm đối tác ký kết hợp đồng CGCN. Công nghệ là sản phẩm của kết quả nghiên cứu ứng dụng thuộc khu vực R&D, do đó CGCN có thể là: - Từ khu vực R&D sang khu vực sản xuất, kinh doanh, trong trƣờng hợp này bên cung công nghệ là nhà nghiên cứu; - Trong nội bộ khu vực sản xuất, kinh doanh, trong trƣờng hợp này bên cung công nghệ là bên đã nhận chuyển giao từ nhà nghiên cứu.
Tất nhiên 16 z không xét đến trƣờng hợp đặc biệt, trong thực tế có thể có trƣờng hợp công nghệ là kết quả nghiên cứu ngay trong khu vực sản xuất, kinh doanh. Trừ trƣờng hợp nghiên cứu do đặt hàng của bên cầu công nghệ, còn trong đa số trƣờng hợp bên cung công nghệ và bên cầu công nghệ khó gặp nhau trên thị trƣờng công nghệ, kể cả trƣờng hợp công nghệ có trong Techmart, do đó vai trò của môi giới công nghệ đƣợc đặt ra là: - Nhận thông tin về công nghệ từ bên cung; - Căn cứ vào nhu cầu công nghệ của bên nhận để chọn lọc thông tin trong tập hợp các công nghệ có đƣợc từ bên cung để cung cấp thông tin cho bên nhận; - Kết nối bên cung và bên cầu công nghệ để đàm phán tiến tới ký kết hợp đồng CGCN. Vai trò của môi giới công nghệ không chỉ dừng lại khi hợp đồng CGCN đƣợc ký kết, mà môi giới công nghệ còn có vai trò nhƣ một tổ chức đảm bảo cho việc thực thi hợp đồng giữa hai bên, nhất là trong trƣờng hợp bảo hành công nghệ khi rủi ro xảy ra từ bên nhận công nghệ. Mặt khác, vai trò của môi giới công nghệ còn đƣợc thể hiện trong trƣờng hợp xảy ra tranh chấp giữa hai bên, môi giới công nghệ đóng vai trò trung gian trong việc đàm phán giữa hai bên, hạn chế đến mức thấp nhất phải nhờ sự can thiệp của tổ chức trọng tài hoặc tòa án.
Tổ chức tư vấn chuyển giao công nghệ Tư vấn CGCN là hoạt động hỗ trợ các bên trong việc lựa chọn công nghệ, đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng CGCN. Hoạt động tƣ vấn CGCN giúp bên nhận CGCN (các doanh nghiệp, cá nhân bị hạn chế về thông tin công nghệ) loại bỏ bớt rủi ro trong CGCN, nhất 1 Trần Văn Hải (2016), Giáo trình Chuyển giao công nghệ, Trƣờng Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội 17 z là rủi ro xuất phát từ yếu tố môi trƣờng, vòng đời công nghệ, không hiểu về công nghệ cạnh tranh… Hoạt động tƣ vấn CGCN đƣợc thực hiện qua các bƣớc: - Vai trò cung cấp thông tin về công nghệ đƣợc chuyển giao: phục vụ nhu cầu của bên cầu công nghệ trong các trƣờng hợp đầu tƣ công nghệ thiết bị mới, cải tiến công nghệ hiện có, lựa chọn nhà cung ứng công nghệ. Việc cung cấp thông tin về bên cung công nghệ thƣờng cung cấp tối thiểu từ 2 đến 3 đơn vị cung ứng công nghệ để bên cầu công nghệ lựa chọn. Vai trò của tổ chức tƣ vấn CGCN phải thể hiện ở năng lực giúp bên cầu so sánh đối chiếu từng hạng mục của công nghệ đƣợc chuyển giao, tƣ vấn cho bên cầu công nghệ về những điểm khác biệt trong công nghệ của từng nhà cung cấp công nghệ, về lợi thế so sánh của công nghệ do từng nhà cung cấp khác nhau… để bên cầu công nghệ lựa chọn cho phù hợp với mục đích sử dụng công nghệ, phù hợp với khả năng tài chính và nhất là phù hợp với năng lực công nghệ của nhân lực KH&CN mà bên nhận hiện có; - Vai trò đánh giá công nghệ, tƣ vấn định giá công nghệ, lựa chọn công nghệ và phƣơng thức CGCN (chuyển giao độc quyền tuyệt đối, chuyển giao độc quyền tƣơng đối, chuyển giao không độc quyền, chuyển giao theo phƣơng thức “chìa khóa trao tay”, chuyển giao theo phƣơng thức “sản phẩm trao tay”, chuyển giao theo phƣơng thức “thị trƣờng trao tay”…).
Vai trò của tƣ vấn còn thể hiện ở việc hỗ trợ bên cầu công nghệ đánh giá ƣu nhƣợc điểm của từng loại công nghệ. Trong một số trƣờng hợp CGCN cao, công nghệ phức tạp của từng dự án cụ thể, tổ chức tƣ vấn CGCN có thể mời những chuyên gia đầu ngành trong từng lĩnh vực tham gia tƣ vấn trực tiếp cho 2 bên dƣới sự chứng kiến của tổ chức tƣ vấn CGCN; - Vai trò hỗ trợ đàm phán, soạn thảo hợp đồng CGCN, hình thức thanh toán (thanh toán chuyển giao trọn gói hoặc thanh toán chuyển giao kỳ vụ) giá chuyển giao, phƣơng thức thanh toán hợp đồng, chế tài vi phạm hợp đồng… 18 z với tiêu chí tiết kiệm chi phí cho cả hai bên (nhất là bên cầu công nghệ), tiết kiệm thời gian; tránh những rủi ro pháp lý (nhất là trong trƣờng hợp có tranh chấp từ bên thứ ba, ví dụ tranh chấp về quyền sở hữu công nghiệp, tranh chấp về thị trƣờng giữa các bên nhận công nghệ khác nhau…). Vai trò của tƣ vấn CGCN còn thể hiện ở việc giúp bên nhận công nghệ tranh thủ ƣu đãi từ Nhà Nƣớc đối với những lĩnh vực đặc thù. Hoạt động tƣ vấn CGCN đƣợc dựa trên: cơ sở dữ liệu về các công nghệ cần chuyển giao, kết quả nghiên cứu trong nƣớc và nƣớc ngoài, mối liên hệ với các tổ chức R&D, kinh nghiệm hoạt động tƣ vấn trong lĩnh vực CGCN.
Hoạt động tƣ vấn CGCN còn đƣợc thể hiện hỗ trợ hai bên đăng ký hợp đồng CGCN, tiếp tục hỗ trợ tƣ vấn giúp bên nhận xây dựng đề án thành lập doanh nghiệp KH&CN…2 1. Tổ chức xúc tiến chuyển giao công nghệ Xúc tiến CGCN là hoạt động thúc đẩy, tạo và tìm kiếm cơ hội CGCN; cung ứng dịch vụ quảng cáo, trƣng bày, giới thiệu công nghệ; tổ chức chợ, hội chợ, triển lãm công nghệ, trung tâm giao dịch công nghệ. Vai trò của xúc tiến CGCN thể hiện: - Làm cho tổng mức lƣu chuyển hàng hóa công nghệ tăng lên tạo cơ hội cho nền kinh tế tăng trƣởng và phát triển, - Xúc tiến CGCN còn có tác dụng thay đổi cơ cấu ngành, lĩnh vực, thúc đẩy ngành, lĩnh vực đó không ngừng đổi mới và phát triển. Góp phần đào tạo nguồn nhân lực để tiếp thu những thành tựu KH&CN trong nƣớc và thế giới.
- Xúc tiến CGCN tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trƣờng, mở rộng thị trƣờng tiêu thụ. - Xúc tiến CGCN kích thích các viện nghiên cứu, trƣờng đại học và các tổ chức KH&CN khác cung cấp hàng hóa công nghệ ra thị trƣờng, thông qua 2 Trần Văn Hải (2016), Giáo trình đã dẫn 19 z quá trình xúc tiến các Viện/trƣờng tổ chức, cá nhân tham gia vào quá trình nghiên cứu và phát triển công nghệ có điều kiện nhìn nhận, đánh giá lại sản phẩm công nghệ của mình để từng bƣớc hoàn thiện đáp ứng nhu cầu của thực tiễn.