Chương 1: Giới thiệu Trong chương này tác giả giới thiệu về mục tiêu nghiên cứu, lý do chọn đề tài nghiên cứu “Nền kinh tế không dùng tiền mặt và những tác động của nền kinh tế không dùng tiền mặt ở Việt Nam”, vì hiệu quả của việc lưu thông tiền tệ ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của nền kinh tế, giúp ổn định, tạo ra công bằng trong xã hội. Và nền kinh tế không dùng tiền mặt là xu hướng phát triển của nhân loại. Chương 2: Khung lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu Chương này giới thiệu về lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống tiền tệ và của các hình thái tiền tệ từ đó cho thấy rằng vai trò của tiền mặt ngày càng mất đi, thay vào đó là tiền kỹ thuật số - tiền điện tử. Ngoài ra trên thế giới cũng có nhiều nghiên cứu về nền kinh tế không dùng tiền mặt nhưng tiếp cận ở những khía cạnh khác.
Trong chương này tác giả giới thiệu khái quát về các nghiên cứu trên thế giới về nền kinh tế không dùng tiền mặt. Qua đó tác giả rút ra ưu nhược điểm của mô hình nền kinh tế không dùng tiền mặt và nền kinh tế sử dụng tiền mặt. Chương 3: Hệ thống lưu thông tiền tệ của Việt Nam hiện nay Chương này giới thiệu về cơ chế phát hành, quá trình tạo tiền và mô hình lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế ở Việt Nam hiện nay. Từ thực tiễn tác giả đã rút ra những bất cập phát sinh của hệ thống lưu thông tiền tệ.
Và những bất cập này cản trở sự phát triển của đất nước. Chương 4: Mô hình lưu thông tiền tệ không dùng tiền mặt và giải pháp 5 Trong chương này tác giả giới thiệu, đề xuất xây dựng một mô hình lưu thông tiền tệ mới không sử dụng tiền mặt, với vai trò trung tâm là Ngân hàng Trung ương và Ngân hàng Nhà nước. Tất cả các giao dịch của mọi cá nhân, tổ chức, kể cả Ngân hàng Thương mại điều thông qua Ngân hàng Nhà nước. Ngân hàng Nhà nước là trung tâm quản lý, kiểm soát mọi giao dịch trong nền kinh tế.
Từ đó giúp khai thác hiệu quả nguồn lực của xã hội, giúp cho nền kinh tế phát triển, văn minh xã hội được nâng cao, phục vụ tốt nhất cho nhu cầu của con người. Ngoài ra trong chương này tác giả cũng đưa ra các giải pháp để xây dựng nền kinh tế không sử dụng tiền mặt một cách hiệu quả, như là ví điện tử, quản lý vàng, hay là kiểm soát ngoại tệ trong nền kinh tế. Chương 5: Kết luận Từ mô hình nền kinh tế không sử dụng tiền mặt, tác giả đưa ra đánh giá dự đoán về những tác động tiêu cực và tích về mặt kinh tế, chính trị, xã hội khi thực hiện mô hình này và đồng thời cũng nêu ra các hạn chế khi thực hiện đề tài này. 6 CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 2.
Lịch sử của hệ thống tiền tệ Trong mỗi thời kỳ phát triển khác nhau của nhân loại cách sử dụng tiền cũng thể hiện được trình độ phát triển của nhân loại qua từng thời kỳ. Từ thuở sơ khai khi loài người sử dụng những công cụ thô sơ để săn bắt hái lượm để duy trì cuộc sống của mình, loài người đã có nhu cầu trao đổi hàng hóa, lương thực, thực phẩm cho nhau để thỏa mãn hơn nhu cầu của mình. Từ nhu cầu trao đổi hàng hóa qua lại lẫn nhau loài người cần một vật ngang giá để ghi nhận những trao đổi đó. Từ đó các hình thái của tiền tệ dần dần phát triển, đầu tiên là da và răng động vật vì trong giai đoạn này vật nuôi là tài sản giá trị nhất, vỏ động vật như vỏ ốc sên cũng được sử dụng làm phương tiện trao đổi gọi là tiền vỏ ốc được sử dụng trong giới buôn bán ở Trung Quốc.
Tiếp theo sự phát triển của nhân loại, khi con người tự tạo ra các công cụ, dụng cụ lao động bằng kim loại, giúp tăng năng suất lao động lúc này các công cụ, dụng cụ lao động là tài sản giá trị nhất do vậy các công cụ, dụng cụ này cũng được dùng làm phương tiện trao đổi như tiền. Khi loài người mở rộng giao thương giữa các vùng miền với nhau, người miền biển và người miền núi, mỗi vùng miền sử dụng lương thực thực phẩm đặt thù của vùng mình làm ra đem trao đổi với vùng khác, ví dụ như người miền biển thì dễ dàng tạo ra được nhiều muối, đánh bắt hải sản trong khi người miền núi thì không, và ngược lại người miền núi thì làm ra ngũ cốc, lâm sản, thú rừng, khai thác kim loại tạo ra các công cụ lao động,. do năng suất lao động tăng lên, một mặt các vùng miền dư thừa những sản vật do mình làm ra và thiếu những sản vật ở vùng miền khác làm được, từ đó phát sinh ra nhu cầu trao đổi qua lại lẫn nhau và những sản vật này trở thành phương tiện trao đổi trong đời sống loài người thời bấy giờ. 7 Khi nhu cầu trao đổi trong xã hội phát triển cao, từ đó tạo ra một tầng lớp làm trung gian trao đổi, thường gọi là lái buôn, khi trao đổi hàng hóa với nhau nãy sinh các bất tiện vì hàng hóa cồng kềnh, vận chuyển, bảo quản khó khăn,… từ nhu cầu đó cần một vật để ghi nhận giá trị của các hàng hóa đó mà đảm bảo thuận tiện trong lưu thông, để đáp ứng nhu cầu đó đồng tiền kim loại ra đời.
Vào khoản thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên đồng tiền kim loại đầu tiên ra đời ở Miền tây Thổ Nhỉ Kỳ ngày nay, và tiếp theo đó ở La Mã, ở Anh ngày nay. Ở Trung Quốc vào khoản thế kỷ thứ 9 trước Công nguyên do thiếu hụt kim loại đồng để đúc tiền buộc Trung Quốc là quốc gia đầu tiên lưu hành tiền giấy trên thế giới, sớm hơn các nước Châu Âu. Vào những năm 1500 tại Cộng Hòa Séc ngày nay đồng giấy bạc Thaler ra đời, là tiền thân của đồng Dolar ngày nay. Cho đến ngày nay, tiền xu, tiền giấy, tiền kỹ thuật số cùng song song tồn tại ở nhiều quốc gia, tiền xu ngày càng thay đổi chất liệu bên trong để đáp ứng tốt hơn mục tiêu bảo quản và lưu thông, tiền giấy cũng vậy qua hàng ngàn năm thì chúng cũng chỉ thay đổi về chất liệu mẫu mã tương ứng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật giúp khó làm giả, bền chắc chắn, nhẹ,… đảm bảo các tiêu chí bảo quản và lưu thông.
Theo sự phát triển của lịch sử thì tiền giấy dần dần thay thế tiền xu, mặc dù vậy tiền xu vẫn chưa kết thúc sứ mệnh lịch sử của mình ở một số quốc gia. Ngày nay tiền kỹ thuật số ra đời và phát triển nhanh chóng, dần dần thay thế cho tiền giấy và tiền xu trong đời sống con người. Và một thời gian không xa nữa khoản vào năm 2050 tiền giấy và tiền xu sẽ kết thúc sứ mệnh lịch sử của mình. Lịch sử về hình thái tiền tệ Các hình thái của tiền tệ thay đổi theo lịch sử phát triển của nhân loại, hình thái đầu tiên của tiền tệ là hóa tệ không kim loại là tiền tệ dưới dạng hàng hóa, tiếp đến là tiền tệ kim loại (tín tệ), tiền giấy (tín tệ) tồn tại cho đến ngày nay song song cùng với sự ra đời của bút tệ, và trong những năm gần đây dưới sự phát triển của khoa học kỹ thuật, khoa học máy tính tiền kỹ thuật số ra đời và dần dần được ưu chuộng.
8 Hóa tệ: Hóa tệ bao gồm hóa tệ kim loại và hóa tệ phi kim loại, hóa tệ phi kim loại chính là vật có giá trị làm vật trung gian để trao đổi hàng hóa qua lại lẫn nhau ví dụ như ở vùng nông thôn thời phong kiến, đến cả thời bao cấp người dân hay dùng lúa gạo làm vật trung gian để trao đổi các hàng hóa khác như lương thực khác, thực phẩm, vải vóc, gia súc, gia cầm,. Ngày nay với sự tiện dụng của các phương tiện thanh toán khác nên hóa tệ phi kim loại hầu như không còn phổ biến trong nền kinh tế. Hóa tệ kim loại tiêu biểu và vàng và bạc, mặt dù mang những đặt tính (có giá trị, có thể chia nhỏ được, đồng nhất, dễ bảo quản cất trữ, thuận tiện trong việc lưu thông) phù hợp với chức năng vai trò là phương tiện thanh toán, cất trữ nhưng vai trò ngày càng sụt giảm do chính phủ không khuyến khích hay nói cách khác là hạn chế sử dụng, ngoài ra khi giao dịch với số lượng lớn hóa tệ kim loại tương đối cồng kềnh khó mang theo, chuyên chở, tính lỏng không cao bằng các hình thái khác, đồng thời trữ lượng của kim loại quý này ngày càng cạn kiệt nên không đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế, ngoài ra các hình thái khác có nhiều ưu điểm hơn, phù hợp hơn trong xã hội ngày nay. Ở nhiều nước trên thế giới hiện nay vai trò của hóa tệ kim loại chiếm một phần rất nhỏ trong các hình thái của tiền tệ điển hình như Nhật Bản hầu như không có cửa hàng kinh doanh vàng miếng, chỉ có một số cửa hàng kinh doanh vàng, bạc trang sức.
Do chênh lệch giá mua và giá bán nên vàng bạc trang sức không đóng vai trò là tiền tệ trong nền kinh tế. Tín tệ (tiền kim loại): Từ thế kỷ thứ 7 trước công nguyên tiền kim loại đã được sử dụng và phát triển cho đến hiện nay ở một số nước vẫn còn sử dụng tiền kim loại trong lưu thông, với mệnh giá nhỏ, được sử dụng ở các máy bán hàng tự động, sử dụng ở các ga tàu điện dùng để mua vé tàu điện, sử dụng ở các cửa hàng, siêu thị. Tuy nhiên ở Việt Nam vào ngày 17 tháng 12 năm 2003 Ngân hàng Nhà nước đưa vào lưu thông tiền kim loại mệnh giá nhỏ 200 đồng, 1000 đồng, 5000 đồng và ngày 01 tháng 04 năm 2004 tiếp tục đưa vào lưu thông một số mệnh giá 500 đồng, 2000 đồng nhưng do hạ tầng chưa đáp ứng được, nhu cầu sử dụng cũng chưa nhiều, thói quen của người dân hay sử dụng tiền giấy. Ngoài ra chất lượng của một số đồng tiền kim loại chưa đảm bảo, trọng lượng quá nặng dẫn đến bất tiện 9 trong việc mang theo, bảo quản.
Nên từ năm 2011 thì hầu như tiền kim loại không còn lưu thông trong nền kinh tế ở Việt Nam.