chương 1 đã trình bày một cách tổng quát nhất về đề tài bao gồm: giới thiệu vấn đề nghiên cứu, lí do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Đồng thời cũng nêu lên ý nghĩa khoa học của đề tài. 6 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ẢNH HƢỞNG CỦA HÌNH THỨC SỞ HỮU NHÀ NƢỚC ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỜI CỦA CÁC NHTM 2.1 Lý thuyết nền của nghiên cứu: Các nghiên cứu về tác động của hình thức sở hữu nhà nước lên tỷ suất sinh lời dựa trên các lý thuyết sau: 2.1 Lý thuyết ngƣời đại diện: Theo Coriat và Weinstein (2011), lý thuyết người đại diện ra đời vào đầu những năm 1970 khi các nhà kinh tế nghiên cứu việc phân chia rủi ro giữa người ủy quyền và người đại diện do họ có mục tiêu và sự phân công lao động khác nhau. Người ủy quyền (chủ sở hữu) giao phó công việc cho người đại diện thông qua một hợp đồng.
Những vấn đề mà lý thuyết người đại diện nghiên cứu chỉ xuất hiện trong chừng mực mà lợi ích của người ủy quyền và người đại diện có sự khác nhau và nhất là giữa họ có thông tin không hoàn hảo (không có toàn bộ thông tin xác đáng) về trạng thái và hành vi của các tác nhân, thông tin không đối xứng giữa các tác nhân (thường thì người đại diện biết nhiều hơn người ủy quyền về công việc mình phải làm). Sự tồn tại của thông tin không hoàn hảo và thông tin không đối xứng dẫn tới những hành vi cơ hội của người đại diện. Có hành vi cơ hội trước khi ký hợp đồng khi người ủy quyền không có đầy đủ thông tin về người đại diện dẫn tới việc mà lý thuyết người đại diện gọi là sự lựa chọn nghịch. Có những hành vi cơ hội sau khi ký hợp đồng khi người ủy quyền không tuân thủ những điều khoản của hợp đồng dẫn tới việc mà lý thuyết người đại diện gọi là rủi ro đạo đức.
Sự không hoàn hảo, không đối xứng về thông tin giữa người ủy quyền và người đại diện dẫn tới chi phí người đại diện (Bouba-Olga, 2010). Thực tế, không thể có một hợp đồng hoàn hảo giữa người ủy quyền và người đại diện vì vậy vấn đề người đại diện luôn tạo ra một chi phí gọi là chi phí người đại diện. Chi phí người đại diện là những chi phí tiền tệ và phi tiền tệ mà các bên phải gánh chịu do sự cần thiết phải thiết lập những hệ thống ràng buộc và kiểm tra. Chi phí người đại diện gồm 3 bộ phận cấu thành, chi phí cho việc kiểm tra và động viên, chi phí nghĩa vụ và chi 7 phí do mất mát phụ trội.
Chi phí cho việc kiểm tra và động viên là những chi phí do người ủy quyền bỏ ra để kiểm tra, định hướng hành vi của người đại diện. Chi phí nghĩa vụ là những chi phí mà người đại diện gánh chịu để đảm bảo là mình không gây ra những hành động làm thiệt hại người ủy quyền hay để có thể bổi thường cho người ủy quyền khi cần thiết. Chi phí do mất mát phụ trội là phần chênh lệch không thể tránh được giữa kết quả hành động của người đại diện đối với người ủy quyền và kết quả của hành động thật sự vì mục đích tối đa hóa lợi ích của người ủy quyền mang lại Coriat và Weinstein (2011). Lý thuyết người đại diện đã đưa ra những kết luận sau (Jensen và Meckling, 1976): Người đại diện hành xử vì lợi ích của người ủy quyền nhiều hơn khi hợp đồng giữa người ủy quyền và người đại diện dựa trên kết quả, hay nói cách khác, hợp đồng dựa trên kết quả là hiệu quả trong việc kiềm chế hành vi cơ hội của người đại diện.
Người đại diện hành xử vì lợi ích của người ủy quyền nhiều hơn khi người ủy quyền có hệ thống thông tin kiểm tra hoạt động của người đại diện, hay nói cách khác hệ thống thông tin kiểm tra hoạt động của người đại diện có khả năng kiềm chế hành vi cơ hội của người đại diện Chi phí người đại diện càng lớn khi người đại diện sở hữu ít hoặc không sở hữu cổ phiếu của công ty hay nói cách khác sở hữu của người đại diện trong doanh nghiệp tăng lên thì hành vi cơ hội của người đại diện sẽ giảm đi. Như vậy, lý thuyết người đại diện cho rằng các Ngân hàng thương mại nhà nước hoạt động kém hiệu quả hơn các Ngân hàng thương mại tư nhân là do thiếu sự giám sát của thị trường vốn cộng với ảnh hưởng của các yếu tố chính trị. Ngược lại các Ngân hàng thương mại tư nhân thường chịu sự giám sát chặt chẽ của thị trường vốn nên có kết quả hoạt động kinh doanh tốt hơn.2 Lý thuyết lựa chọn công cộng Lý thuyết lựa chọn công cộng giải thích các yếu tố thể chế, các quá trình chính trị chi phối như thế nào đến việc ra đời và triển khai một chính sách công cũng như tính hạn chế về phương diện hiệu quả của nó. Các cá nhân vì quyền lợi cá nhân hạn hẹp, hành 8 động một cách khá duy lý nhìn từ góc độ riêng của họ, có xu hướng tạo ra các kết quả phi lý về mặt tập thể (Buchanan, 1986) Nội dung lý thuyết lựa chọn công cộng cho rằng sự thất bại của chính phủ là do: không có khả năng lãnh đạo, hoặc không sẵn lòng của chính phủ để hành động theo hướng quan tâm đến sở thích của công chúng, đội ngũ công chức không có động lực làm việc, tham nhũng, sử dụng nguồn lực/tiền bạc bởi một số người và nhóm trong nỗ lực gây ảnh hưởng đến nhà chính trị nhằm thay đổi chính sách công do đó chính trị có xu hướng bị chi phối bởi các nhóm nhỏ, ít người được lợi ích lớn trong khi chi phí phân tán rộng rãi (Sử Đình Thành, 2010) Như vậy, lý thuyết lựa chọn công cộng nghiên cứu về hành vi của các quyết định đến từ các chính trị gia dựa trên các giả thuyết về tính tư lợi, tối đa hóa thỏa dụng, từ đó đưa ra nhận định mục đích của các chính trị gia không hẳn là tối đa hóa lợi nhuận, mà là tối đa hóa thỏa dụng cá nhân, chính trị, khiến cho các Ngân hàng thương mại nhà nước hoạt động kém hiệu quả hơn các Ngân hàng thương mại tư nhân.3 Lý thuyết quyền sở hữu: Lý thuyết quyền sở hữu được phát triển bởi Furubotn và Svetozar (1972), sau đó là Fama và Jensen (1983), Hart và Moore (1990).
Lý thuyết đánh giá ảnh hưởng của những hình thức sở hữu đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Theo lý thuyết quyền sở hữu, một quyền sở hữu trên một tài sản được xác định bởi ba thuộc tính sau đây: Quyền được sử dụng tài sản Quyền có được thu nhập từ tài sản Quyền chuyển nhượng tài sản cho một người thứ ba. Với lý thuyết quyền sở hữu, doanh nghiệp được xem như một tập hợp những hợp đồng thiết lập một cấu trúc nhất định những quyền sở hữu. Chức năng đầu tiên của quyền sở hữu, đặc biệt của sở hữu tư nhân là cung cấp cho những cá thể sự khuyến khích, động viên nhằm tạo ra, duy trì và giá tăng giá trị tài sản (Coriat và Weinstein, 2011).
Lý thuyết quyền sở hữu đã chỉ ra rằng, cấu trúc những quyền sở hữu một mặt phải tận dụng được 9 những lợi thế chuyên môn hóa, mặt khác phải đảm bảo một hệ thống động viên và kiểm soát có hiệu quả. Quản trị có hiệu quả cần hướng tới các giá trị sau: tính công bằng, tính giải trình, tính minh bạch và tính trách nhiệm để đảm bảo các bên có quyền lợi liên quan đều có trách nhiệm hợp tác tích cực trong việc phát triển công ty. Như vậy, lý thuyết về quyền sở hữu nhấn mạnh tầm quan trọng của sở hữu trong việc xác định kết quả kinh doanh, theo đó tại các Ngân hàng thương mại nhà nước, đa phần các mục tiêu chính trị được theo đuổi thay vì việc tối đa hóa lợi nhuận khiến cho hiệu quả tài chính của các tổ chức này kém hơn các Ngân hàng thương mại tư nhân. Mặc dù cả ba lý thuyết áp dụng ở các lĩnh vực khác nhau, không chỉ nghiên cứu riêng cho lĩnh vực ngân hàng, nhưng đều cho rằng các tổ chức có sở hữu nhà nước sẽ có hiệu quả hoạt động thấp hơn các tổ chức tư nhân.
Do đó qua ba lý thuyết trên có thể cho rằng cho các Ngân hàng thương mại nhà nước hoạt động kém hiệu quả hơn các Ngân hàng thương mại tư nhân.2 Tổng quan về tỷ suất sinh lời của ngân hàng thƣơng mại 2.1 Khái niệm Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với từng cộng đồng địa phương, chủ thể tham gia nói riêng. Tuỳ theo điều kiện của mỗi nước và sự phát triển của hệ thống tài chính nước đó mà có những định nghĩa khác nhau về Ngân hàng. Theo Trầm Thị Xuân Hương và các tác giả (2013) thì các định nghĩa khác nhau về NHTM bao gồm: Theo Ngân hàng thế giới: ngân hàng là tổ chức tài chính nhận tiền gửi chủ yếu dưới dạng không kỳ hạn hoặc tiền gửi được rút ra với một thông báo ngắn hạn (tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm). Tại Hoa Kỳ: NHTM là một tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, chuyên cung cấp các dịch vụ về tài chính như nhận tiền gửi, chuyển tiền, thanh toán, cho vay, đầu tư, đổi tiền, mua bán ngoại hối và các dịch vụ khác liên quan đến tiền như bảo quản, ủy thác, làm đại lý trong nước và quốc tế.
10 Tại Pháp: theo đạo luật ngân hàng Pháp năm 1941, Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở nào đó thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác, hay hình thức khác số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính. Tại Việt Nam, theo điều 4 của luật các tổ chức tín dụng, ngày 16 tháng 06 năm 2010 quy định “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận” (Cổng thông tin bộ tư pháp, 2015).