Mở đầu. Giới thiệu sự cần thiết nghiên cứu; mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương 5: Kết luận và các khuyến nghị. 123doc 5 Chương 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.
Khái niệm về viễn thông Theo Luật Viễn thông 2009 thì “Viễn thông là việc gửi, truyền, nhận và xử lý ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng thông tin khác bằng đường cáp, sóng vô tuyến điện, phương tiện quang học và phương tiện điện từ khác” (Luật số 41/2009/QH12). Do đó, có thể hiểu viễn thông bao gồm các dịch vụ cơ bản sau: dịch vụ điện thoại cố định và di động, dịch vụ phát thanh – truyền hình, dịch vụ Internet. Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã giới hạn viễn thông gồm hai gói dịch vụ chính là dịch vụ viễn thông cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng. Trong đó, liệt kê dịch vụ viễn thông cơ bản gồm: Dịch vụ thoại; Dịch vụ fax; Dịch vụ truyền số liệu; Dịch vụ truyền hình ảnh; Dịch vụ nhắn tin; Dịch vụ hội nghị truyền hình; Dịch vụ kênh thuê riêng; Dịch vụ kết nối Internet và các dịch vụ viễn thông cơ bản khác theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông.
Dịch vụ giá trị gia tăng bao gồm: Dịch vụ thư điện tử; Dịch vụ thư thoại; Dịch vụ fax gia tăng giá trị; Dịch vụ truy nhập Internet và các dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng khác theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông (Nghị định 25/2011/NĐ-CP của Chính phủ), Như vậy, trong bài nghiên cứu này, phạm vi ngành viễn thông Việt Nam sẽ bao gồm các hoạt động cung cấp dịch vụ viễn thông (dịch vụ cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng). Lý thuyết tăng trưởng Tăng trưởng kinh tế là một phần quan trọng của lý thuyết về phát triển kinh tế. Tăng trưởng kinh tế bao gồm tăng cả mặt số lượng lẫn chất lượng. Tăng trưởng kinh tế phản ánh mức tăng lên hay giảm đi của nền kinh tế ở năm này so với năm trước hoặc của thời kỳ này so với thời kỳ trước.
Mức tăng trưởng phản ánh sự tăng lên hay giảm đi nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh 123doc 6 tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm của nền kinh tế giữa các năm hay giữa các thời kỳ. Để đo lường tăng trưởng kinh tế của từng khu vực tỉnh thành trong một nước người ta thường dùng hai chỉ số chủ yếu: phần tăng, giảm quy mô của nền kinh tế (tính theo GRDP BQĐN), hoặc tốc độ tăng trưởng kinh tế (tính theo GRDP BQĐN) cùng với các chỉ số kinh tế vĩ mô khác như đầu tư cố định, đầu tư giao thông và viễn thông, chi tiêu chính phủ, vốn nhân lực, tăng dân số, thương mại… Ngoài ra, để xem xét tác động của viễn thông đến tăng trưởng kinh tế trong trường hợp của Việt Nam giai đoạn 2006-2016, bài nghiên cứu đã xem xét giả thuyết hội tụ trong lý thuyết tân cổ điển của Solow. Giả thuyết này lập luận có 03 lý do dẫn đến hiện tượng hội tụ kinh tế giữa các vùng miền trong một quốc gia: Thứ nhất, giả thuyết cho rằng các vùng miền trong một quốc gia sẽ hội tụ về đường tăng trưởng cân bằng của nó; Thứ hai, tỷ lệ sinh lời của vốn sẽ thấp hơn ở các vùng miền có tỷ lệ vốn trên lao động cao hơn; Thứ ba, sẽ có sự khác biệt về thu nhập giữa các vùng miền nếu có khoảng cách về trình độ công nghệ sản xuất. Lý thuyết về mối quan hệ giữa viễn thông và tăng trưởng kinh tế Trong khi lý thuyết Tân cổ điển cho rằng nguồn gốc tăng trưởng phụ thuộc vào hai yếu tố đầu vào vốn (K) và lao động (L) thì mô hình Kaldor lại cho rằng tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào việc phát triển kỹ thuật và trình độ công nghệ, trong đó bao gồm cả viễn thông.
GDPi,t = + MVAi,t + zt + εi,t Trong đó: GDP là tốc độ tăng trưởng, MVA là giá trị làm gia tăng sản xuất, chỉ số i xác định tỉnh thành, chỉ số t xác định khoảng thời gian và z biểu thị các hiệu ứng thời gian (tức là, các hiệu ứng cụ thể có thể ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa GDP-MVA theo thời gian). Vai trò của viễn thông trong tăng trưởng kinh tế Kenney (1995) đã từng nói rằng “Thay vì nhìn vào quá khứ để tìm hiểu viễn 123doc 7 thông làm phát triển kinh tế hay phát triển kinh tế làm tăng trưởng viễn thông, hãy nhìn vào tương lai tình hình kinh tế xã hội của các quốc gia sẽ như thế nào nếu không có phương tiện lưu trữ và truyền tải thông tin một cách nhanh chóng, cho thấy bản chất tuyệt đối của ngành viễn thông.” Đầu tư phát triển viễn thông rõ ràng là một điều cần thiết để tăng hiệu quả các hoạt động kinh tế, thương mại, hành chính, làm giảm chi phí giao dịch, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Một nghiên cứu khác của LAM, Pun-Lee; SHIU, Alice (2010) cho thấy các quốc gia ở Trung và Đông Âu đã đạt được mức tăng trưởng năng suất nhân tố tổng hợp viễn thông cao hơn nhờ chính sách cạnh tranh và tư nhân hóa ngành viễn thông, đặc biệt là các dịch vụ viễn thông di động. Gần đây nhất, BERTSCHEK, Irene; NIEBEL, Thomas (2016) đã khẳng định việc sử dụng Internet di động giúp làm tăng năng suất lao động ở các công ty Đức một cách đáng kể.
Tuy nhiên, sai lầm trong lựa chọn phương thức quản lý viễn thông được cảnh báo là một trong những nguyên nhân khiến cho việc tăng trưởng kinh tế không đạt được bước tiến thần tốc như mong đợi được đề cập trong nghiên cứu của Alleman, James và cộng sự (1994), của Aker, Jenny C. Mbiti (2010) hay của Erumban, Abdul A.; DAS, Deb Kusum (2016) cho thấy điện thoại di động không thể là “viên đạn bạc” cho sự phát triển ở vùng hạ Sahara Châu Phi, ở các quốc gia phát triển Nam Phi, Cộng hòa Nam Phi hay Ấn Độ do thiếu các chính sách tiếp thị, các chính sách phân phối sản phẩm công nghệ thông tin và truyền thông, các chính sách kích thích hiệu ứng lan truyền về lợi ích của viễn thông đến người dân từ các nhà cầm quyền địa phương. Một nguyên nhân khác có thể kể đến là do chính phủ các quốc gia này lo sợ việc phát triển viễn thông sẽ làm suy yếu địa vị của họ trong xã hội. Bên cạnh đó, các quốc gia có sự phát triển kinh tế thần kỳ cũng đưa ra những cảnh báo cho thấy đầu tư viễn thông đang giảm dần lợi nhuận ở Trung Quốc (Ding, Lei, and Kingsley Haynes, 2006), ở Singapore (Vu, Khuong M, 2013).
Điều này hàm ý phát triển viễn thông trong giai đoạn sớm hơn có thể thu được lợi nhuận 123doc 8 nhiều hơn và ngược lại. Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy rằng hầu hết các khoản đầu tư viễn thông đều ảnh hưởng thuận lợi đến nền kinh tế theo nhiều cách. Thứ nhất, nó làm giảm chi phí sản xuất và tăng doanh thu tái đầu tư của các doanh nghiệp. Thứ hai, việc sử dụng công nghệ điện thoại làm tăng năng suất của tất cả các ngành công nghiệp.
Cuối cùng, một số tài liệu gần đây cho thấy Internet đã thay đổi thị trường bằng cách cho phép tìm kiếm thông tin hiệu quả hơn. Như vậy, có thể thấy, các quốc gia đầu tư vào viễn thông sẽ làm tăng nhu cầu sử dụng hàng hóa và dịch vụ, từ đó làm tăng tổng sản lượng quốc gia. Ảnh hưởng của viễn thông đến tăng trưởng lần đầu tiên được tìm thấy bởi Kavesh, Garbade và Silber (1978) khi kết quả nghiên cứu cho thấy điện báo và đường dây cáp xuyên Đại Tây Dương giúp cho việc kinh doanh, trao đổi hàng hóa ở khắp mọi nơi trở nên dễ dàng do thu hẹp chênh lệch giá cả giữa các thị trường. Andrew Hardy (1980) cũng cho ra kết quả rằng mật độ điện thoại bình quân đầu người có tác động tích cực đến tăng trưởng GDP của các nước phát triển và đang phát triển.
Bayes và cộng sự (1999) cho thấy một nửa số cuộc gọi điện thoại liên quan đến các mục đích kinh tế như thảo luận về cơ hội việc làm, giá cả hàng hóa, giao dịch đất đai, kiều hối và các mặt hàng kinh doanh khác. Bayes và cộng sự (1999) cũng lưu ý rằng, giá trung bình của hàng hóa nông nghiệp ở các khu vực có điện thoại cao hơn ở các khu vực không có điện thoại. Eggleston và cộng sự (2002), cho thấy cơ sở hạ tầng viễn thông cơ bản có thể tạo ra “hiệu ứng kỹ thuật số” thông qua việc phổ biến thông tin cho người dân địa phương và cải thiện mức sống của người nghèo trên thế giới. Tại Việt Nam, Bộ Thông tin và Truyền thông đã khẳng định viễn thông đóng vai trò quan trọng là ngành dịch vụ, kinh tế - kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội; là tiền đề cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, góp phần đẩy mạnh tỷ trọng dịch vụ lên cao nhất trong giai đoạn 2005-2016 như Hình 2.
Ngoài ra, viễn thông 123doc 9 còn là cánh tay nối dài trong công tác quản lý nhà nước, góp phần phát triển văn hóa xã hội, bảo vệ tài nguyên môi trường. Tuy nhiên, tầm quan trọng của ngành viễn thông đối với nền kinh tế vẫn chưa được chính phủ nhà nước Việt Nam công nhận một cách đầy đủ nên việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng vẫn chưa được xem trọng, cụ thể tỷ trọng vốn đầu tư viễn thông từ ngân sách nhà nước vẫn ở mức thấp, chiếm 0.7% tổng GDP cả nước giai đoạn 2005-2016 (Nguồn: Tổng Cục Thống kê).1 Tỷ trọng tổng sản phẩm trong nước của Việt Nam phân theo khu vực kinh tế giai đoạn 2005 - 2016 Nguồn: Tổng Cục thống kê năm 2016. Tổng quan các nghiên cứu trước Các nghiên cứu về tăng trưởng viễn thông thường đề cập đến mối quan hệ hai chiều giữa tăng trưởng kinh tế và nhu cầu về dịch vụ viễn thông. Nghĩa là khi sức mua gia tăng sẽ làm tăng nhu cầu đối với các dịch vụ viễn thông và khi dịch vụ viễn thông phát triển sẽ thúc đẩy nhu cầu mua sắm tiêu dùng.
Chatterjee và cộng sự (1998) chỉ ra rằng các mô hình thu nhập quyết định mức thu nhập dùng một lần như mua điện thoại để sử dụng các dịch vụ viễn thông.