CHƯƠNG 1 TONG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIEN QUAN DEN QUAN LY NHA NUOC VE PHAT TRIEN CONG NGHE TRONG BOI CANH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LAN THỨ TƯ 1. Những công trình nghiên cứu quốc tế liên quan đến quản lý nhà nước về phát triển công nghệ trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư 1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến doanh nghiệp công nghệ Alex Coad & Reid Alasdair (2012) đã đề cập đến doanh nghiệp công nghệ và vai trò của phát triển doanh nghiệp công nghệ đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Tác giả cho rằng, một quốc gia muốn rút ngắn khoảng cách chênh lệch phát triển kinh tế giữa các quốc gia cần phải phát triển doanh nghiệp và thị trường công nghệ, vì đây là những doanh nghiệp cung cấp yếu tố đầu vào cho nhiều ngành sản xuất kinh doanh khác.
Đây được coi là những đóng góp quan trọng của các tác giả khi chỉ ra được mối tương quan giữa phát triển doanh nghiệp và thị trường công nghệ với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, những nước đang phát triển như Việt Nam can thấy rõ tam quan trọng của môi tương quan này nêu muôn phát triên nhanh và bên vững. Berrin Aytac & Wu S David (2013) đã phát hiện rằng các công ty công nghệ đang phải trải qua những thị trường có nhiều biến động với vòng đời sản phẩm công nghệ ngày càng ngắn do cạnh tranh thị trường dẫn đến sự đổi mới công nghệ nhanh chóng. Antonio De Marco & các cộng sự (2017) đã phân tích sự phát triển các doanh nghiệp KH&CN quốc tế những năm gần đây thông qua xu hướng thay đổi của chủ sở hữu bằng sáng chế ở thị trường Mỹ. Nhóm tác giả chỉ ra rằng các bằng sáng chế của các tác giả người Mỹ có khả năng được tham gia trao đối nhiều hơn so với các tác giả khác.
Xu hướng này cũng tương tự đối với các bằng sáng chế được nghiên cứu dựa trên cơ sở khoa học so với sáng chê không dựa trên cơ sở khoa học. Elena Derunova & cộng sự (2016) đã xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến động thái nhu cầu công nghệ cao dưới góc độ tiến bộ của KH & CN. Các chỉ số thể hiện khả năng cạnh tranh của công nghệ cao trên thị trường Nga và nước ngoài được nghiên cứu, các phương pháp tiếp cận nhằm tạo ra nhu cầu về công nghệ cao và mô hình khái niệm về quản lý bán hàng các sản phẩm công nghệ cao được ban luận đến. Thẻ điểm dé xây dựng ma trận ra quyết định trong tiếp thị hợp lý và tạo ra cơ chế quan lý bán hàng công nghệ cao trên thị trường các sản phâm công nghệ cao và đưa ra lời khuyên thiết thực về việc tạo ra nhu cầu về công nghệ cao trên thị trường B2B.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, quản lý và phát triển hiệu quả thị trường công nghệ cao là chìa khóa cho quá trình chuyền đổi từ phát triển công nghệ sang phát triển công nghệ cao. Để nâng cao hiệu quả của chiến lược quản lý bán hàng sản phẩm công nghệ cao, nghiên cứu này đã đề xuất khái niệm quản lý nhu cầu tiêu dùng dựa trên sự tương tác giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất, từ đó tập trung xây dựng chiến lược bán hàng. Khái niệm đề xuất cho phép hệ thống hóa quy trình bán hàng sản phâm dựa trên quan hệ người tiêu dùng. Nó cho phép thực hiện định giá bằng cách sử dụng các thông số về dòng đầu tư, lợi nhuận trong kỳ cũng như động lực thay đổi số lượng người tiêu dùng các sản phâm công nghệ cao.
Joe Tidd & Bessant John R (2020) đã nhắn mạnh đến sự can thiệp của nhà nước đối với việc phát triển các doanh nghiệp công nghệ. Theo các tác giả, nhà nước cần chuyền từ vai trò người chỉ huy và tham gia trực tiếp sang vai trò là người tạo lập môi trường và khuyến khích các hoạt động công nghệ, nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp công nghệ tham gia trên thị trường bằng cách thiết lập và thực thi quyền sở hữu công nghiệp, xây dựng văn hóa kinh doanh. Ngoài ra, nhà nước cũng cần tạo điều kiện, hỗ trợ về những ưu đãi khác dé mở lối, tạo ra không gian cho DMST ở doanh nghiệp công nghệ, đồng thời thúc đây các tô chức nghiên cứu của nhà nước chuyền sang cơ chế hoạt động mang tính thị trường hơn và do vậy thiết lập được mỗi quan hệ giữa các tô chức này và thị trường. Các tác giả đã chỉ ra được vai trò của yếu tố thé chế, trong đó quan trọng nhất là sự QLNN đối với sự phát triển của doanh nghiệp công nghệ, bat cứ quốc gia nào trên thé giới cũng đều phải chú trọng đến vai trò này nếu muốn doanh nghiệp công nghệ hoạt động tốt và phát triển.
Nicolás Figueroa & Serrano Carlos J (2019) đã nghiên cứu hành vi của các doanh nghiệp công nghệ ở quy mô nhỏ và lớn trong việc mua bán bằng sáng chế. Về tông thể, doanh nghiệp quy mô nhỏ bán nhiều bằng sáng chế mới được cấp phép hơn so với doanh nghiệp quy mô lớn. Trong số các bằng sáng chế được bán bởi các doanh nghiệp nhỏ, 69% được mua bởi các doanh nghiệp nhỏ khác. Trong khi đó, chỉ có hơn 6% các bằng sáng chế mà doanh nghiệp quy mô lớn bán được doanh nghiệp nhỏ mua lại.
Tương tự, Ashish Arora & cộng sự (2022) nhận định rằng, chất lượng của các sản phẩm công nghệ tăng lên có thé day mạnh hoạt động của các doanh nghiệp trên thị trường KH&CN. Kết quả của nghiên cứu tại Hoa Kỳ trong giai đoạn từ 1980 đến 2016 cho thấy răng: (1) các bằng sáng chế dựa trên co sở nghiên cứu khoa học sẽ có nhiều khả năng được đưa ra trao đổi hơn các bằng sáng chế không dựa trên cơ sở khoa học; (2) mối liên hệ này được thé hiện rõ hơn nhiều ở các doanh nghiệp nhỏ so với các doanh nghiệp lớn. Thêm vào đó, các nghiên cứu khoa học mới, có tính chuyên môn cao sẽ có nhiều giá trị trao đổi cho sản phâm khoa học hơn các nghiên cứu cũ, mang tính phổ biến. Vì vậy, theo các tác giả hàm ý, nhà nước cần có những chính sách khuyến khích ĐMST để có được những sản phẩm KH&CN chất lượng cao.
Mohd Hizam-Hanafiah & Soomro Mansoor Ahmed (2021) đã nghiên cứu dé tìm hiểu về mối quan hệ giữa một số đặc điểm doanh nghiệp và thành tựu của CMCN 4.0 của các công ty công nghệ ở Malaysia. Việc so sánh các công nghệ được phân tích theo quy mô công ty và loại hình công ty (sản xuất và dịch vụ). Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có sự khác biệt lớn trong triển khai công nghệ 4.0 (bao gồm Robot tự động, công nghệ di động và điện toán đám mây) giữa loại hình kinh doanh sản xuất và kinh doanh dịch vụ. Các công ty kinh doanh dịch vụ có mức độ triển khai Điện toán đám mây cao hơn so với các công ty kinh doanh sản xuất, mặc dù cả hai loại công ty đều sử dụng nó một cách rộng rãi.
Tuy nhiên, kết quả của nghiên cứu này chỉ phản ánh đặc điểm của các công ty công nghệ tại Malaysia. Những công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý nhà nước trong bỗi cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư Trong nghiên cứu của Farida & cộng sự (2020) đã chỉ ra tam quan trọng của việc QLNN trong bối cảnh CMCN 4.0 bằng ứng dụng chính phủ điện tử ở Indonesia. Tuy nhiên, hiện tại việc áp dụng chính phủ điện tử ở quốc gia này mới chỉ dừng ở việc đây mạnh về số lượng, chưa nâng cao chất lượng vì vậy việc QLNN còn gặp nhiều khó khăn. Theo nhóm tác giả, có 2 nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng này là sự khác biệt về vùng miễn địa phương, các khu vực trung tâm dễ dàng tiếp cận công nghệ hơn so với những vùng miền khác và ng dụng chính phủ điện tử mới chỉ mang tính cung cấp thông tin đơn thuần, chưa vận hành được nhiều chức năng khác theo đúng nghĩa của chính phủ điện tử, nhiều địa phương chỉ dừng ở việc thiết lập website.
Bên cạnh đó, một sỐ nguyên nhân khác cũng được bàn luận đến như là hạn chế về thé chế, chính sách và chất lượng nguồn nhân lực không cao ở Indonesia. Mohamed & cộng sự (2020) cho rang trong bối cảnh CMCN 4.0, các quyết định của nhà nước có tác động rất lớn đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội.0 sẽ tạo ra sự thay đổi vượt bậc nhờ trí tuệ nhân tạo (AT), khối lượng di liệu lớn (Big data) , kết nối thé giới thực và ảo (Internet kết nối van vat). Vì ly do đó, Nhà nước cần có chiến lược và kế hoạch phát triển dé nắm bắt và tận dụng tốt các cơ hội. Đồng thời, Nhà nước cũng cần có hệ thống giải pháp mang tính đồng bộ dé hạn chế những rủi ro mà CMCN 4.0 mang lại, đặc biệt là van về về bảo mật thông tin, an ninh mạng.
Salimova & cộng sự (2020) đã kiểm tra mức độ nhận thức và tầm nhìn về triển vọng phát triển quản lý chất lượng và các hệ thống tương ứng trong thời đại chuyển đổi sang công nghệ và nguyên tắc trong CMCN 4.0 giữa các chuyên gia quản lý chất lượng của các công ty Nga. Nghiên cứu dựa trên khảo sát được triển khai vào năm 2019 với sự tham gia của 50 chuyên gia đến từ các công ty công nghiệp và dịch vụ của Nga. Cuộc khảo sát được tô chức theo các giai đoạn của chu trình Kế hoạch - Thực hiện - Kiểm tra - Hành động của Deming. Nhóm tác giả sử dụng mối tương quan Spearman để xác định mối quan hệ g1ữa sự hiểu biết về mức độ ưu tiên hiện tại và dự đoán những thay đổi trong tương lai của các bên liên quan, trong đó các đối tượng khảo sát cho rằng nhà nước đóng vai trò quan trọng trong định hướng cung cấp và đào tạo liên ngành cho các chuyên gia quản lý chất lượng và chuyên gia công nghệ thông tin về chuyên đổi kỹ thuật số trong quan lý chất lượng.
10 Mohiuddin & cộng sự (2023) nghiên cứu về tầm quan trọng và sức ảnh hưởng của CMCN 4.0 đối với các quốc gia đang phát triển.0 hoàn toàn có thể thay đổi bộ mặt của một quốc gia nhờ việc ứng dụng các thành tựu của KH & CN dé thúc đây năng suất, gia tăng thương mai, tăng trưởng kinh tế, và đối tượng bị ảnh hướng nhưng cũng được hưởng lợi nhiều nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs).