Chương 1: Trình bày lý do nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, đóng góp của nghiên cứu và kết cấu của luận văn. Chương 2: Trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết làm nền tảng cho nghiên cứu, tóm tắt các nghiên cứu trước đã chứng minh tồn tại mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, truyền thông và tăng trưởng kinh tế. Chương 3: Trình bày mô hình nghiên cứu, cơ sở chọn biến, mô tả biến nghiên cứu, cơ sở dữ liệu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong bài. Chương 4: Kiểm định các giả thiết nghiên cứu, phân tích dữ liệu và trình bày kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Đánh giá mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, truyền thông và tăng trưởng kinh tế của các quốc gia ASEAN và khuyến nghị giải pháp đầu tư hợp lý cho công nghệ thông tin, truyền thông của các quốc gia này. Trang 4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Trong chương này, tác giả sẽ trình bày ba nội dung chính làm nền tảng để lựa chọn mô hình nghiên cứu. - Cơ sở lý thuyết về tăng trưởng kinh tế bao gồm: khái niệm, cách đo lường và các mô hình về tăng trưởng. - Lý thuyết về cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, truyền thông bao gồm: định nghĩa, phân loại và vai trò của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, truyền thông đối với tăng trưởng kinh tế.
- Tóm tắt sơ lược các nghiên cứu trước để có cơ sở lựa chọn các biến trong mô hình.1 Cơ sở lý thuyết về tăng trưởng kinh tế 2.1 Khái niệm về tăng trưởng Tăng trưởng kinh tế là vấn đề cốt lõi trong lý luận phát triển kinh tế. Tăng trưởng không đồng nghĩa với phát triển, tuy nhiên tăng trưởng là điều kiện cần và là điều kiện tiên quyết cho phát triển. Mục tiêu hàng đầu của tất cả các quốc gia trên thế giới đặt ra là tăng trưởng và phát triển kinh tế, nó là thước đo cho sự tiến bộ và thịnh vượng của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn cụ thể. Chính vì thế, việc nhận thức đúng đắn về tăng trưởng kinh tế và ứng dụng có hiệu quả các nghiên cứu thực nghiệm để hoạch định chính sách tăng trưởng kinh tế là rất quan trọng.
Trong Báo cáo phát triển thế giới (1994), Ngân hàng Thế giới định nghĩa rằng tăng trưởng kinh tế chỉ là sự gia tăng thu nhập bình quân đầu người của một nước. Đồng quan điểm đó, Nafziger (2002) cũng cho rằng tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên của thu nhập bình quân đầu người của một nước. Begg và cộng sự (2007) lại cho rằng, tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về tốc độ và quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Người ta thường tính mức gia Trang 5 tăng về tổng giá trị tài sản của xã hội bằng các đại lượng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc dân (GNP).
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP): là tổng giá trị tính bằng tiền của tất cả các hàng hóa và dịch vụ sau cùng mà một quốc gia sản xuất ra trên phạm vi lãnh thổ của nước đó (bao gồm sản lượng được tạo ra bởi cư dân người nước ngoài) trong một thời gian nhất định (thường là một năm). Tổng sản phẩm quốc dân (GNP): là tổng giá trị tính bằng tiền của tất cả các hàng hoá và dịch vụ sau cùng được tạo ra bởi công dân một quốc gia (bao gồm sản lượng được tạo ra bởi cư dân đang sống ở nước ngoài) trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm). Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy mô kinh tế kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế kỳ trước. Tốc độc tăng trưởng kinh tế được biểu diễn bằng công thức toán học sau: y = dY/Y × 100(%) Với y là tốc độ tăng trưởng và Y là quy mô của nền kinh tế.
Trong thực tế, để đo lường tăng trưởng kinh tế người ta thường dùng chỉ tiêu GDP (hoặc GNP) thực tế hơn là sử dụng chỉ tiêu danh nghĩa. Theo Kuznets (1955) tăng trưởng là sự gia tăng một cách bền vững của sản lượng bình quân đầu người hay sản lượng trên mỗi lao động; tương tự đó North và Thomas (1973) đưa ra định nghĩa tăng trưởng kinh tế xảy ra nếu sản lượng tăng nhanh hơn dân số. Perkins (2006) cho rằng tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập/sản phẩm bình quân đầu người hoặc thu nhập/sản phẩm quốc dân mà một nền kinh tế sản xuất ra sau khi đã điều chỉnh lạm phát. Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) của một quốc gia.
Sự gia tăng này được biểu hiện ở quy mô và tốc độ. Quy mô tăng trưởng được biểu thị bằng số tuyệt đối và tốc độ tăng trưởng được biểu thị bằng số tương đối (tỷ lệ tăng trưởng). Quy mô phản ánh sự gia tăng ít hay nhiều, còn tốc độ phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm Trang 6 giữa các thời kỳ. Thu nhập của nền kinh tế bằng giá trị được phản ánh qua các chỉ tiêu và được tính cho toàn bộ nền kinh tế hoặc tính bình quân trên đầu người.
Có nhiều quan điểm định nghĩa về tăng trưởng kinh tế, song tác giả đồng quan điểm với Perkins (2006), tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập/sản phẩm bình quân đầu người sau khi đã điều chỉnh lạm phát vì thế trong bài nghiên cứu tác giả dùng đại lượng GDP thực bình quân đầu người để đo lường tăng trưởng kinh tế.2 Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế 2.1 Mô hình tăng trưởng của Alfred Marshall (1842 – 1924) Với “Các nguyên lý kinh tế học” ra đời năm 1890, Alfred Marshall đã đưa ra một vài luận điểm mới so với lý thuyết tăng trưởng truyền thống: - Vốn có thể thay thế lao động. - Phát triển kinh tế theo chiều rộng: tăng vốn phù hợp với tăng lao động. - Phát triển kinh tế theo chiều sâu: tăng vốn trên 1 đơn vị lao động. - Tiến bộ kỹ thuật là yếu tố cơ bản để thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
- Xu hướng cải tiến kỹ thuật là dùng vốn thay thế lao động. Hàm sản xuất Cobb-Douglas bậc nhất đồng dạng phản ánh suất sinh lợi không đổi theo qui mô và suất sinh lợi giảm dần theo yếu tố sản xuất, sao cho 0 < α < 1: Y = F(K,L) = Kα.L1-α Trong đó, α là độ co dãn của sản lượng Y theo vốn K và 1- α là độ co dãn của sản lượng Y theo lao động L. Suất sinh lợi không đổi theo qui mô hàm ý rằng nếu tăng gấp đôi vốn và lao động sẽ làm tăng gấp đôi sản lượng. Suất sinh lợi giảm dần theo qui mô được áp dụng khi cung một yếu tố đầu vào không thể thay thế (ví dụ như đất đai) là khan hiếm hoặc cố định.2 Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Keynes (1883 -1946) Trong Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ (1936), Keynes đã đưa ra các yếu tố xác định mức sản lượng và việc làm của một quốc gia.
Keynes cho rằng, nền kinh tế không phải lúc nào cũng đạt đến mức sản lượng tiềm năng nhờ vào cơ chế tự điều chỉnh như quan điểm của trường phái cổ điển (Adam Smith với lý thuyết bàn tay vô hình) mà nền kinh tế chỉ đạt tới và duy trì ổn định ở một mức sản lượng nào đó, dưới mức việc làm đầy đủ cho tất cả mọi người. Khi mô tả nền kinh tế, Keynes cho rằng có hai đường tổng cung: AS - LR phản ánh mức sản lượng tiềm năng của nền kinh tế và AS - SR phản ánh mức sản lượng thực tế. Cân bằng của nền kinh tế có thể đạt được dưới mức sản lượng tiềm năng (Yo <Y*) và để đảm bảo sự cân bằng kinh tế, khắc phục khủng hoảng, giả quyết nạn thất nghiệp và duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức ổn định thì không thể để cơ chế thị trường tự điều chỉnh mà cần phải có sự điều tiết của chính phủ tác động vào nền kinh tế để kích cầu hiệu quả, khuyến khích tiêu dùng, thúc đẩy đầu tư sản xuất để đảm bảo việc làm và tăng thu nhập.3 Mô hình Harrod – Domar Trên cơ sở kế thừa tư tưởng của Keynes, với sự nghiên cứu một cách độc lập, năm 1940 Roy Harrod (Anh) và Evsay Domar (Mỹ) đã cùng đưa ra mô hình giải thích mối quan hệ giữa tăng trưởng và thất nghiệp ở các nước phát triển. Mô hình này nhấn mạnh vai trò của tích lũy vốn trong quá trình tăng trưởng, nó được sử dụng rộng khắp ở các nước phát triển để xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng và các nhu cầu về vốn.
Ba yếu tố chính tác động đến tăng trưởng kinh tế của mô hình Harrod – Dorman là: vốn sản xuất (K), lao động (L) và đất đai (R) nhưng khác với David Ricardo, mô hình này cho rằng nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế là vốn K. Đơn vị đầu ra của bất kỳ đơn vị kinh tế nào cũng phụ thuộc vào tổng số vốn đầu tư của nó. Với g là tỷ lệ tăng trưởng của đầu ra, k là quy mô vốn sản xuất là k, s là tỷ lệ tích lũy trong đầu tư, ta có: Trang 8 k còn được gọi là hệ số ICOR (Incremental Capital Output Ratio - hệ số gia tăng vốn và đầu ra). Ý nghĩa của k là vốn được tạo ra bằng đầu tư là yếu tố cơ bản của tăng trưởng, tiết kiệm là nguồn gốc của đầu tư.4 Mô hình tăng trưởng Solow Năm 1956, Robert Solow đã giới thiệu một mô hình tăng trưởng kinh tế mới, có bước tiến đáng kể từ mô hình Harrod - Domar.
Solow nhìn nhận có nhiều vấn đề phát sinh từ hàm sản xuất trong mô hình Harrod - Domar. Giải pháp ông đưa ra là bỏ hàm sản xuất có hệ số cố định và thay thế bằng hàm sản xuất tân cổ điển có tính linh hoạt hơn và có sự thay thế giữa các yếu tố sản xuất. Trong mô hình Solow, các tỷ số vốn/sản lượng và vốn/lao động không còn cố định nữa mà thay đổi tùy theo nguồn vốn và lao động tương đối trong nền kinh tế và quá trình sản xuất. Cũng như mô hình Harrod - Domar, mô hình Solow được triển khai để ứng dụng phân tích các nền kinh tế công nghiệp, nhưng được sử dụng rộng rãi hơn cho tất cả các quốc gia trên thế giới, bao gồm các nước đang phát triển.