phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu về vai trò nhà nƣớc trong phát triển công nghệ cao Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò nhà nƣớc trong phát triển công nghệ cao Chƣơng 3: Thực trạng vai trò nhà nƣớc trong phát triển công nghệ cao ở Việt Nam Chƣơng 4: Các quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò nhà nƣớc trong phát triển công nghệ cao ở Việt Nam 9 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ VAI TRÒ NHÀ NƢỚC TRONG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ CAO Liên quan tới chủ đề nghiên cứu, đến nay đã có khá nhiều công trình ở các góc độ và quy mô khác nhau đƣợc đăng tải ở trong và ngoài nƣớc. Nghiên cứu về CNC - Về xuất khẩu sản phẩm CNC: Sunil Manivới “Xuất khẩu sản phẩm CNC từ các nƣớc ĐPT: Đó có phải là thực hay chỉ là một tạo tác thống kê”, Đại học Liên Hợp Quốc, Viện công nghệ mới, năm 2000 đã phân tích hoạt động xuất khẩu sản phẩm CNC của các nƣớc ĐPTđể đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi liệu các nƣớc ĐPT có thực sự là nhà xuất khẩu của sản phẩm CNC hay không? Phân tích các số liệu về xuất khẩu sản phẩm CNC cho thấy các nƣớc ĐPT ngày càng trở thành nhà xuất khẩu các sản phẩm sáng chế. Thƣơng mại thế giới đang ngày càng trở thành thị trƣờng của các sản phẩm CNC. Hơn nữa, nổi bật là sự tăng đáng kể của chƣơng trình xuất khẩu CNC của các quốc gia ĐPT: gần một phần tƣ sản phẩm xuất khẩu từ các nƣớc này hiện nay thuộc về sản phẩm CNC.
Tỷ lệ đóng góp từ xuất khẩu CNC của các nƣớc ĐPT đã tăng thật ấn tƣợng. Nhƣng sự tập trung đáng kể đó chỉ thuộc về một số quốc gia. Bài viết này cũng tìm cách giải thích cho câu hỏi liệu các nƣớc ĐPT này có thực sự là nhà xuất khẩu của sản phẩm CNC hay không. Điều đó đƣợc thực hiện bằng việc xem xét cẩn thận mức độ chuyên môn hóa sản phẩm của cả các nƣớc đã và ĐPT, bằng việc kiểm tra số lƣợng bằng sáng chế của các nƣớc này và bằng phân tích các chỉ tiêu nhất định của khả năng cạnh tranh CNC.
Bài thảo luận kết luận bằng việc giới thiệu một nghiên cứu điển hình của nhà xuất khẩu CNC hàng đầu đến từ quốc gia ĐPT. Tác giả xem xét bốn đặc điểm chính về xuất khẩu CNC: sự tập trung trong xuất khẩu CNC ở một vài nƣớc ĐPT; sự bắt kịp của các nƣớc ĐPT trong xuất khẩu CNC; khả năng cạnh tranh của xuất khẩu CNC từ các nƣớc ĐPT; tỷ lệ xuất khẩu ròng. Phân tích của tác giả cho thấy rằng trong thị phần xuất khẩu CNC của các nƣớc ĐPT là rất cao, chủ yếu tập trung ở năm quốc gia. Nói cách khác, phần lớn các 10 z nƣớc ĐPT không phải là nơi sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm CNC.Có nhiều khác biệt về các năng lực công nghệ của các nƣớc, ngay cả ở hoạt động xuất khẩu CNC.
Hàn Quốc và Xing-ga-po ngày càng phát triển, trong đó có doanh nghiệp trong nƣớc thực hiện việc thiết kế, sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng CNC. Malaysia thuộc khoảng giữa, Thái Lan và Philippines dƣờng nhƣ là ở đoạn cuối (nói một cách tƣơng đối) với năng lực thấp. Tuy nhiên, các nƣớc ĐPTnhìn chungđã nhanh chóng bắt kịp với các nƣớc phát triển.Vì vậy, phải rất thận trọng để nói rằng hoạt động này là một tạo tác thống kê đơn thuần. - Về mô hình phát triển sản phẩm CNC: Vaida ZemlickienË, “Phân tích các mô hình phát triển sản phẩm CNC, Đại học Kỹ thuật Vilnius Gediminas, Saulėtekio đã phân tích các mô hình ảnh hƣởng đến sự phát triển sản phẩm CNC.
Mục tiêu của tác giả là làm rõ khái niệm phát triển CNC, quan sát các mô hình ảnh hƣởng đến phát triển sản phẩm CNC do các nhà khoa học đề xuất và thực hiện so sánh các mô hình này.Sau khi so sánh khái niệm CNC của nhiều nhà khoa học, tác giả đã rút ra kết luận rằng các sản phẩm CNC là những sản phẩm tiên tiến, phức tạp, đòi hỏi lƣợng kiến thức kỹ thuật chuyên sâu đƣợc sản xuất bởi các công ty có nguồn nhân lực kỹ thuật cao và có sự đầu tƣ nhiều vào nghiên cứu khoa học. Hơn nữa, các sản phẩm này nhạy cảm về thời gian vì các nhà khoa học liên tục tìm kiếm các giải pháp mới để phát minh ra các công nghệ tiên tiến hơn, làm cho tất cả các công nghệ trƣớc đó trở nên lạc hậu. Tác giả phân tích về phát triển sản phẩm CNC bằng việc chỉ ra quy trình phát triển sản phẩm CNC và khẳng định phát triển sản phẩm CNC đặc biệt khó khăn do sự không chắc chắn về thị trƣờng; sự không chắc chắn về công nghệ cụ thể và tính biến động trong cạnh tranh. Tác giả đã chỉ ra các mô hình ảnh hƣởng đến phát triển sản phẩm CNC: - Mô hình đƣợc thiết kế để tinh lọc hƣớng phát triển sản phẩm, vị trí của sản phẩm và thị trƣờng ở giai đoạn phát triển sản phẩm ban đầu.
- Các mô hình đƣợc cấu trúc chặt chẽ đƣợc thiết kế để xác định các hành động từ giai đoạn phát triển ban đầu đến giới thiệu sản phẩm ra thị trƣờng,. 11 z - Các mô hình xác định tác động của các yếu tố đến việc giới thiệu sản phẩm ra thị trƣờng. - Các mô hình tập trung vào tác động của hành vi của khách hàng đối với vòng đời sản phẩm. Việc phân loại các mô hình này dẫn đến các điều kiện tiên quyết cho ứng dụng các mô hình đó trong các giai đoạn phát triển sản phẩm khác nhau.Giới thiệu sản phẩm ra thị trƣờng và quy trình phát triển sản phẩm mới có liên quan chặt chẽ với nhau vì việc giới thiệu sản phẩm là một phần của quá trình phát triển sản phẩm.
- Về tình hình phát triển KHCN, CNC: +Vũ Đình Cự, Trần Xuân Sầm với “Lực lƣợng sản xuất mới và kinh tế tri thức”, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2006 cho chúng ta một cái nhìn tổng thể về khoa học, công nghệ và CNC; công nghệ thông tin dẫn đầu; công nghệ vật liệu tiên tiến; công nghệ năng lƣợng; hệ thống CNC và lực lƣợng sản xuất mới; kinh tế tri thức là tất yếu của lịch sử; những đặc trƣng chủ yếu của nền kinh tế tri thức; sự hình thành và xu hƣớng phát triển của nền kinh tế tri thức trong thời gian tới trên thế giới; chủ nghĩa tƣ bản hiện đại và sự biến đổi thích nghi với nền kinh tế tri thức; sự phát triển kinh tế tri thức trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. +“ Khoa học và công nghệ thế giới - Thách thức và vận hội mới”của Tạ Bá Hƣng do Trung tâm thông tin khoa học và Công nghệ Quốc gia xuất bản năm 2005 đã phân tích những xu thế phát triển triển khoa học và công nghệ hiện nay; sự phát triển của công nghiệp CNC. Những thách thức và vận hội đang đặt ra cho khoa học và công nghệ trong thời đại hiện nay cũng đƣợc tác giả đề cập tới.Vấn đề khoa học và công nghệ của các nƣớc (bao gồm của 22 nƣớc trên thế giới) cũng đƣợc phân tích khá sâu trong ấn phẩm này. +“Công nghệ tiên tiến và công nghệ cao với tiến trình công nghiệp hoá hiện đại hoá ở Việt Nam” của tác giả Phan Xuân Dũng xuất bản năm 2012 tại Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia đã trình bày một số vấn đề chung về CNC và thực trạng, dự báo phát triển công nghệ tiên tiến, CNC; một số hình thức tiếp nhận, chuyển giao công nghệ; ứng dụng và phát triển công nghệ tiên tiến, CNC của một số nƣớc và khu vực trên thế giới.
Thực trạng và giải pháp về ứng dụng và phát triển 12 z công nghệ tiên tiến, CNC với tiến trình công nghiệp hoá hiện đại hoá ở VN cũng đƣợc các tác giả làm rõ. - Về đào tạo nhân lực CNC:Võ Xuân Tiến, Đại học Cần Thơ với“ Đào tạo nguồn nhân lực cho một số ngành kinh tế và ngành CNC trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”năm 2013 đã khái quát một số vấn đề lí luận về đào tạo nguồn nhân lực. Tác giả cũng phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp trong công tác đào tạo nguồn nhân lực cho một số ngành kinh tế và ngành CNC trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. - Về khu công nghệ cao: Luận án Tiến sỹ kinh tế: “Thu hút vốn đầu tƣ phát triển khu công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh” của Nguyễn Thị Mỹ Dung - TP Hồ Chí Minh, năm 2009 đã phân tích thực trạng thu hút vốn đầu tƣ phát triển khu công nghiệp cao thành phố Hồ Chí Minh và đƣa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy việc thu hút vốn đầu tƣ phát triển khu công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh một cách hiệu quả hơn.
- Về ứng dụng CNC: Công trình: “Nông nghiệp ứng dụng CNC là yêu cầu tất yếu để hội nhập quốc tế (NXB Khoa học và Kỹ thuật)” của tác giả Phạm S đã phân tích làm sáng tỏ cơ sở khoa học về nông nghiệp ứng dụng CNC; nêu khái quát nhiều thông tin bổ ích về CNC; phân tích các chính sách ứng dụng CNC; tổ chức sản xuất quy mô hàng hóa, đặc biệt là nông sản xuất khẩu, ứng dụng CNC mang tính đột phá và đồng bộ; xây dựng và quảng bá thƣơng hiệu nông sản; xây dựng và phát triển nông sản chủ lực quốc gia của một số nƣớc có nền nông nghiệp tiên tiến, hiện đại trên thế giới.Tác giả đã chỉ rõ ứng dụng CNC, sản xuất quy mô lớn là con đƣờng duy nhất để hiện đại hóa ngành nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng và sức cạnh tranh nông sản trên thị trƣờng quốc tế. Tác giả cũng khẳng định với những điều kiện tự nhiên thuận lợi, nguồn nhân lực, cần đầu tƣ nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ mới có tính thực tiễn cao và chính sách mang tính đột phá, nông nghiệp VN sẽ đạt đƣợc những thành tựu to lớn trong những năm tới. Tác giả giới thiệu những thông tin khái quát về ứng dụng CNC trong nông nghiệp tại các quốc gia đã thành công trên thế giới nhƣ Nhật Bản, Hà Lan, I-xra-en. Tác 13 z giả cũng đƣa ra những khảo sát, nghiên cứu về các mô hình ứng dụng CNC tại VN và kết quả đạt đƣợc.
Những bài học thành công của một số đơn vị nhƣ Công ty Agrivina tỉnh Lâm Đồng, Tập đoàn TH True Milk Nghệ An, Công ty sinh học Rừng hoa Đà Lạt, Công ty Đà Lạt GAP.