Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái quát về các doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo Điều 2, Luật Doanh nghiệp số 33/QH, ngày 29/12/2022 thì doanh nghiệp có định nghĩa là “ là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật ” Khái niệm về DNNVV được quy định tại Điều 2 Luật Hỗ trợ DNSN, DNNVV số 16/QH ngày 7/7/2022 thì “ DNNVV là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động đúng theo Pháp Luật và các quy định liên quan bằng cách xác định kích cỡ theo số lượng lao động bình quân/năm của các ngành doanh nghiệp theo chính phủ quy định từng thời kỳ ”.
Tại Điều 9 của Luật này, Ngành DNSN, DNNVV chia thành 3 ngành như sau: 1. DNSN, DNNVV tiến hành sản xuất 2. DNSN, DNNVV tiến hành thương mại 3. DNSN, DNNVV tiến hành dịch vụ 4.DNSN, DNNVV tiến hành sản xuất là ngành doanh nghiệp đang hoạt động doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, thủ công, và sản xuất nông nghiệp trở thành hàng hòa (Điều10Tr4) DNSN, DNNVV tiến hành thương mại là ngành doanh nghiệp đang hoạt động doanh nghiệp trong lĩnh vực thương mại bán buôn, bán lẻ (Điều11 Tr4) DNSN, DNNVV tiến hành dịch vụ là ngành doanh nghiệp đang hoạt động doanh nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ, giao thông-vận tải, tài chính, giáo 8 dục, y tế và dịch vụ khác (Điều12Tr4) Theo Lệnh về định cỡ DNSN, DNNVV số 04/CP ngày 12/1/ 2023: Tại Điều 3, DNSN là doanh nghiệp có một trong những điều kiện như sau: Ngành Số lao động Số vốn Tổng thu nhập doanh nghiệp /năm (KIP) / năm (KIP) Sản xuất 1-5 ≤ 120.000 Thương mại 1-5 ≤180.000 Tại Điều 4, Doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có một trong những điều kiện như sau: Ngành Số lao động Số vốn Tổng thu nhập doanh nghiệp /năm (KIP) / năm (KIP) Sản xuất 6-50 ≤1.000 Thương mại 6-50 ≤1.000 Tại Điều 5, Doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có một trong những điều kiện như sau: Ngành Số lao động Số vốn Tổng thu nhập doanh nghiệp /năm (KIP) / năm (KIP) Sản xuất 51-99 ≤4.000 Thương mại 51-99 ≤4.000 Như vậy, Ở Lào, theo Luật Doanh nghiệp Lào, các doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân loại dựa trên một số tiêu chí như số lao động, vốn đầu tư, doanh thu hàng năm và tài sản.
Theo đó, doanh nghiệp có số lao động từ 1 đến 20 người, vốn đầu tư từ 50 triệu kip (khoảng 5.500 USD) đến 2 tỷ kip (khoảng 220.000 9 USD), doanh thu hàng năm từ 200 triệu kip (khoảng 22.000 USD) đến 3 tỷ kip (khoảng 330.000 USD), và tài sản từ 500 triệu kip (khoảng 55.000 USD) đến 5 tỷ kip (khoảng 550.000 USD) được coi là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Khái niệm quản lý nhà nước Quản lý nhà nước là khái niệm chỉ các hoạt động và quy trình do chính phủ hoặc các cơ quan nhà nước thực hiện để điều hành và kiểm soát các lĩnh vực và nguồn tài nguyên quan trọng trong một quốc gia. Quản lý nhà nước có thể áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm kinh tế, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh, giao thông vận tải, môi trường, năng lượng, và quản lý tài chính. Đối với các mỗi lĩnh vực, quản lý nhà nước thường bao gồm việc thiết lập các quy định và quyền lực, thu thập thông tin, lập kế hoạch, triển khai chính sách, giám sát và đánh giá hiệu quả.
Mục tiêu của quản lý nhà nước là tạo ra một môi trường ổn định và phát triển cho quốc gia, đảm bảo sự công bằng, bảo vệ quyền và lợi ích của các cá nhân và cộng đồng, và thúc đẩy sự phát triển bền vững và tiến bộ. Tùy thuộc vào hệ thống chính trị và triết lý của từng quốc gia, quản lý nhà nước có thể được thực hiện theo các hình thức khác nhau, bao gồm quản lý trực tiếp từ phía chính phủ, quản lý công khai, quản lý theo hợp đồng, và quản lý đối tác công tư. Như vậy, Hoạt động QLNN phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Một số yếu tố cơ bản cần chú ý là: - Yếu tố con người; - Yếu tố chính trị; - Yếu tố tổ chức; - Yếu tố quyền lực; - Yếu tố thông tin.
Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp và doanh nghiệp nhỏ và vừa * Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp là tổng hợp các biện pháp quản lý của chủ thể là nhà nước có tác động đến đối tượng quản lý là doanh nghiệp thông qua các biện pháp : Chính phủ đặt ra các quy tắc, quy định và luật lệ để điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp bao gồm việc cấp giấy phép kinh doanh, quy định về thuế, quyền sở hữu trí tuệ, quy định về môi trường và an toàn lao động, và các quy định về bảo vệ người tiêu dùng, Chính phủ có nhiệm vụ giám sát và kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp để đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật và các quy chuẩn bao gồm việc kiểm tra, thanh tra, và giám sát định kỳ hoặc không định kỳ, cũng như xử lý các vi phạm pháp luật nếu cần thiết. Chính phủ thể hiện vai trò quản lý nhà nước bằng cách thiết lập chính sách công nhằm đảm bảo lợi ích công và phát triển bền vững. Chính phủ có trách nhiệm đảm bảo quyền lợi và an toàn cho người tiêu dùng. Điều này có thể bao gồm việc thiết lập quy định về chất lượng sản phẩm và dịch vụ, bảo vệ quyền lợi tiêu dùng, và xử lý các tranh chấp giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Ngoài việc giám sát và quản lý, chính phủ cũng có nhiệm vụ khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp. Điều này có thể bao gồm việc cung cấp các chương trình đào tạo, tài trợ và vay vốn, khuyến nghị và tư vấn, và các biện pháp khác nhằm thúc đẩy sự phát triển và cạnh tranh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có khía cạnh tích cực như đảm bảo công bằng, an toàn và phát triển bền vững, nhưng cũng có thể gây ra một số hạn chế và thách thức. Sự can thiệp quá mức của quản lý nhà nước có thể làm giảm sự linh hoạt và sáng tạo của doanh nghiệp, gây ra rào cản và chi phí phụ, và làm mất đi sự cạnh tranh trong nền kinh tế.
Do đó, 11 quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp cần đạt được sự cân bằng hợp lý giữa sự can thiệp và khuyến khích sự phát triển của doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo lợi ích công cộng và sự phát triển bền vững của quốc gia. Từ những phân tích ở trên ta có thể hiểu khái niệm quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp là một hệ thống quy định, giám sát và can thiệp của chính phủ hoặc các cơ quan quản lý nhà nước đối với các hoạt động của các doanh nghiệp trong một quốc gia. Mục tiêu chính của quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp là đảm bảo sự hoạt động công bằng, hiệu quả và tuân thủ các quy định pháp luật, đồng thời bảo vệ lợi ích công cộng và phát triển bền vững. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs-Small and Medium-sized Enterprises) là các tổ chức kinh doanh có quy mô nhỏ hơn so với các tập đoàn lớn.
Tuy không có định nghĩa chính thức và đồng nhất trên toàn cầu, nhưng các đặc điểm chung của doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm: Một là, Quy mô kinh doanh: Doanh nghiệp nhỏ và vừa thường có quy mô nhỏ hơn và hoạt động tại phạm vi hạn chế, bao gồm từ vài người đến một số lượng nhân viên hạn chế. Quy mô tài sản, doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng thường nhỏ hơn so với các tập đoàn lớn. Hai là, Độ phân cấp tổ chức: Doanh nghiệp nhỏ và vừa thường có cấu trúc tổ chức đơn giản và linh hoạt hơn so với các tập đoàn lớn. Ba là, Tính khởi nghiệp và sáng tạo: doanh nghiệp nhỏ và vừa thường xuất phát từ ý tưởng kinh doanh sáng tạo và có tính khởi nghiệp cao.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa thường linh hoạt và nhanh chóng thích nghi với thị trường, có khả năng thay đổi và tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mới. Bốn là: Tính cạnh tranh: Doanh nghiệp nhỏ và vừa thường hoạt động trong các thị trường cạnh tranh và phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các doanh 12 nghiệp khác. Năm là, Tài chính và nguồn lực hạn chế: Một trong những thách thức lớn đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa là hạn chế về tài chính và nguồn lực. Thường khó khăn trong việc tiếp cận vốn đầu tư, hạn chế quy mô sản xuất và tiếp thị, và thiếu khả năng hấp dẫn nhân tài giỏi.
Sáu là Quyền lợi và chính sách hỗ trợ: Nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế đã nhận thức được vai trò quan trọng của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong sự phát triển kinh tế và tạo việc làm. Vì vậy, có sự quan tâm đặc biệt đến việc thiết lập các chính sách và chương trình hỗ trợ nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh và phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa, bao gồm hỗ trợ tài chính, đào tạo và tư vấn, quyền sở hữu trí tuệ và pháp lý, và thúc đẩy tiếp cận thị trường. Vai trò của quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa Vai trò của quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) có thể được nhìn nhận từ nhiều khía cạnh khác nhau. Dưới đây là một số vai trò quan trọng mà quản lý nhà nước có thể đóng đối với DNNVV: Một là, Tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi: Quản lý nhà nước có trách nhiệm tạo ra một môi trường kinh doanh ổn định và thuận lợi cho DNNVV.
Điều này bao gồm việc thiết lập và thực thi các quy tắc và quy định kinh doanh, cung cấp cơ sở hạ tầng hỗ trợ và đảm bảo sự công bằng trong cạnh tranh. Hai là, Hỗ trợ tài chính và tài nguyên: Nhà nước có thể cung cấp hỗ trợ tài chính và tài nguyên cho DNNVV thông qua các chính sách và chương trình hỗ trợ. Điều này có thể bao gồm việc cung cấp vốn vay ưu đãi, hỗ trợ đào tạo và phát triển nhân lực, cung cấp thông tin và tư vấn kinh doanh, cũng như hỗ trợ tiếp cận thị trường và xuất khẩu.