Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái quát về doanh nghiệp và doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế đất nước.
Doanh nghiệp tạo ra mọi loại của cải đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội, tạo ra việc làm, thu nhập của hàng triệu người. Doanh nghiệp cũng là nơi trực tiếp biến các thành quả của nghiên cứu và triển khai thành hiện thực. Sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế đất nước phụ thuộc rất lớn vào sự lớn mạnh của hệ thống doanh nghiệp. Theo Luật doanh nghiệp số 59/2020/QH14, ngày 17 tháng 06 năm 2020 “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo Luật hỗ trợ doanh nghiệp số 04/2017/QH14, ngày 12 tháng 06 năm 2017 thì tiêu chí xác định DNNVV là: Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: a) Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; b) Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng. Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ. Luật được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 12/06/2017, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018). 6 Theo định nghĩa mới nhất về DNNVV trong Nghị định số 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính phủ, DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, được phân thành 3 cấp: siêu nhỏ, nhỏ, và vừa, theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm.
Theo Điều 6, Nghị định số 39/2018/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 11 tháng 03 năm 2018 “Quy định chi tiết một số điều của Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ vừa vừa”, tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm: Doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân theo quy mô bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này.
Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1 Điều này. Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và lĩnh vực công nghiệp, xây dựng có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này. 7 Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này. Bảng phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam Doanh nghiệp siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Tổng Tổng Tổng Tổng Tổng Số lao Số lao Số lao Tổng KHU VỰC vốn DT vốn DT vốn động động động DT (Tỷ (Tỷ (Tỷ (Tỷ (Tỷ (Tỷ (Người) (Người) (Người) VNĐ) VNĐ) VNĐ) VNĐ) VNĐ) VNĐ) I.
Nông, lâm nghiệp ≤3 ≤ 10 <3 3-20 10-100 3-50 20 - 100 100- 200 50 - 200 và thủy sản II. Công nghiệp và ≤3 ≤ 10 <3 3-20 10-100 3-50 20 - 100 100 - 200 50 - 200 xây dựng III. Thương mại và dịch ≤3 ≤ 10 <3 3-50 10-50 3-100 50 - 100 50 - 100 100 - 300 vụ (Nguồn: Tác giả tổng hợp từ NĐ 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018) Như vậy, với những quan điểm tổng hợp trên và những quy định thực tế hiện nay khái niệm DNNVV có thể hiểu là: DNNVV ở Việt Nam là những DN có quy mô về vốn hoặc lao động tương đối nhỏ và thỏa mãn các quy định theo từng ngành nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác nhau của pháp luật. Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.
Khái niệm - Quản lý Nhà nước Theo Giáo trình quản lý hành chính nhà nước: Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội 8 và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Như vậy, quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Quản lý nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt. Quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa.
Theo nghĩa rộng: quản lý nhà nước là toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước, từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp, đến hoạt động tư pháp. Theo nghĩa hẹp: quản lý nhà nước chỉ bao gồm hoạt động hành pháp. Quản lý nhà nước được đề cập trong đề tài này là khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng; Quản lý nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của nhà nước. Hoạt động quản lý nhà nước chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, song có thể các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được nhà nước uỷ quyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhà nước theo quy định của pháp luật.
- Quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa Quản lý nhà nước đối với DNNVV là sự tác động có chủ đích, có tổ chức và bằng pháp quyền nhà nước lên các DNNVV và vì mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Quản lý nhà nước đối với DNNVV là sự tác động của cơ quan quyền lực nhà nước bằng các phương thức công quyền đối với quá trình hình thành, hoạt động và chấm dứt sự tồn tại của DNNVV. Quản lý nhà nước đối với DNNVV còn được hiểu là việc sử dụng quyền lực nhà nước để can thiệp và điều chỉnh hoạt động của DNNVV. Việc can thiệp và điều chỉnh của nhà nước được thực hiện bằng công cụ pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, bộ máy cơ quan quản lý nhà nước.
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nhà nước sử dụng công cụ quản lý chủ yếu bằng kế hoạch, mệnh lệnh, các quyết định hành chính. Việc thành lập doanh nghiệp do nhà nước quyết định và phụ thuộc vào ý chí của nhà nước. Chỉ có 9 hai loại hình doanh nghiệp được phép thành lập doanh nhà nước và hợp tác xã, hoạt động của doanh nghiệp cũng được quản lý bằng các công cụ - đó là kế hoạch, quy hoạch, mệnh lệnh và các quyết định hành chính.Việc chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp cũng phụ thuộc vào nhà nước, với hình thức duy nhất là giải thể. Chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các thực thể kinh tế tham gia vào các thị trường theo quy luật của thị trường.
Các doanh nghiệp tự chủ quyết định sản xuất kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật, nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, nguyên tắc pháp quyền xã hội chủ nghĩa được đề cao. Như vậy, quản lý nhà nước đối với DNNVV là sự tác động có tổ chức và bằng quyền lực của nhà nước thông qua một hệ thống các chính sách kinh tế lên các DNNVV nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực phát triển kinh tế để đạt được các mục tiêu phát triển doanh nghiệp đã đặt ra. Cần khẳng định rằng, quản lý nhà nước đối với DNNVV không chỉ là các hoạt động quy hoạch, điều hành, kiểm soát sự phát triển của các DNNVV mà còn bao hàm cả hoạt động khuyến khích, hỗ trợ sự phát triển của các DNNVV. Quản lý nhà nước đối với DNNVV bao gồm cả việc tạo lập môi trường pháp lý ổn định và bình đẳng cho các doanh nghiệp, xác lập chính sách khuyến khích đầu tư phát triển và biện pháp xúc tiến đầu tư, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển, phối hợp đồng bộ trong việc cung cấp các nguồn nhân lực, tài lực, vật lực đảm bảo thông suốt đầu vào và đầu ra cho DNNVV.