CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP CẤP TỈNH 1. Tổng quan về hợp tác xã và hợp tác xã nông nghiệp 1. Khái niệm hợp tác xã và hợp tác xã nông nghiệp 1.1 Khái niệm hợp tác xã Hợp tác xã là một khái niệm được ra đời rất sớm với nhiều tên gọi khác nhau cùng với mục đích hỗ trợ, giúp nhau trong các ngành nghề sản xuất, kinh doanh của từng cá nhân, cụ thể. Theo một số tài liệu, tiền thân của các HTX xuất hiện vào năm 1761 tại nước Anh do thợ dệt lập nên.
Trong những năm tiếp theo, phong trào thành lập các HTX phát triển rộng khắp các nước ở Châu Âu. Vào đầu những năm 1900, phong trào HTX lan sang các nước tại Châu Á như Nhật Bản, Ấn Độ, Thái Lan,… và phổ biến trong nền kinh tế của các nước. Tại Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến phong trào hợp tác hóa nhằm tập hợp sức mạnh của nhiều người, tạo nên sức tập thể và là cơ sở cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Điều 1, Luật HTX năm 2003 chỉ ra “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của HTX theo quy định của pháp luật”. 8 Khoản 1, Điều 3, Luật HTX năm 2012 thì nêu “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã”. Từ những khái niệm trên ta thấy bản chất của HTX là tự nguyện, bình đẳng, hợp tác lẫn nhau trên cơ sở nhu cầu chung của thành viên là nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ giống nhau phát sinh thường xuyên ổn định từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, đời sống của xã viên và tự chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất kinh doanh. Khái niệm hợp tác xã nông nghiệp Hiện nay, có nhiều khái niệm liên quan đến HTXNN, tuy nhiên một số khái niệm sau sát với HTXNN tại Việt Nam: Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật hợp tác xã năm 2012: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã.” Như vậy, dựa trên khái niệm hợp tác xã mà Luật hợp tác xã đã đưa ra thì Hợp tác xã nông nghiệp là một loại hình hợp tác xã.
Đối với hợp tác xã nông nghiệp thì loại hình này được hiểu là một tổ chức về nông nghiệp với số lượng thành viên tối thiểu là 07 thành viên cùng tự nguyện thành lập, đồng sở hữu và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong việc thực hiện các hoạt động sản xuất nông nghiệp, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, đồng thời hợp tác xã tạo ra việc làm cho những người nông dân, nhằm đáp ứng nhu cầu chung của tập thể các thành viên về tạo ra sản phẩm cũng như lợi nhuận đối với các hoạt động nông nghiệp. Hợp tác xã nông nghiệp cũng như các hợp tác xã khác là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, hoạt động trên cơ chế tự chủ, tự chịu 9 trách nhiệm, thực hiện cách thức quản lý hợp tác xã theo cơ chế bình đẳng và dân chủ. Đặc điểm của hợp tác xã nông nghiệp Hợp tác xã ở nước qua phát triển qua nhiều giai đoạn với nhiều mô hình, tính chất, đặc điểm khác nhau, phù hợp với từng giai đoạn lịch sử nhất định. Tuy nhiên, quá trình phát triển HTXNN ở nước ta có thể chia thành các giai đoạn sau: Giai đoạn trước năm 1975 Sau 1954, Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, đi lên chủ nghĩa xã hội, một trong những nhiệm vụ trọng tâm là đưa nông dân vào con đường làm ăn tập thể dưới nhiều hình thức, HTX phát triển từ bậc thấp đến HTX bậc cao.
Giai đoạn 1955, số HTX được thành lập chưa nhiều, đến năm 1960, phong trào thành lập các HTX mới phát triển mạnh. Tại hội nghị Trung ương lần thứ 16, khóa II đã quyết định "Hợp tác hoá nông nghiệp là cái khâu chính trong toàn bộ sợi dây chuyền cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc nước ta, đồng thời góp phần quan trọng đẩy mạnh cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất Tổ quốc” Hội nghị nhấn mạnh: trong quá trình vận động hợp tác hoá nông nghiệp phải dựa hẳn vào bần nông, đoàn kết chặt chẽ với trung nông, hạn chế đi đến xoá bỏ sự bóc lột kinh tế của phú nông, cải tạo tư tưởng của phú nông, ngăn ngừa địa chủ ngóc đầu dậy, tiếp tục mở đường cho địa chủ lao động cải tạo thành con người mới; kiên quyết đưa nông dân đi vào con đường hợp tác hoá nông nghiệp tiến lên chủ nghĩa xã hội. Do vậy, đến cuối năm 1960, đại bộ phận nông dân ở miền Bắc đã tham gia vào HTX. Khi phong trào HTX phát triển mạnh và được đánh giá là cơ bản hoàn thành thì cũng bộc lộ nhiều bất cập: Hộ xã viên không phấn khởi làm việc cho HTX, thiếu cơ chế cụ thể về tổ chức quản lý, nhiều HTX hoạt động rất yếu, đời sống xã viên sau khi vào HTX không khá hơn, thậm chí còn kém hơn so với trước, một số nơi xã viên xin ra khỏi HTX.
Vào năm 1962 đã nảy sinh một hiện tượng đáng chú ý là một số HTX ở Hải Phòng bước đầu thực hiện hình thức khoán hộ, song xu hướng này lập tức bị chặn lại. 10 Giai đoạn từ năm 1976 đến trước khi có luật HTX năm 1996 Giai đoạn này, HTX phát triển có chiều hướng khác nhau. Tại miền bắc, với chủ trương củng cố lại sản xuất, theo hướng tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Tổ chức lại các hoạt động của HTX theo Nghị quyết 61/CP ngày 5/4/1976 của Chính phủ, hầu hết HTX có quy mô lớn, quy mô toàn xã.
Trong khi đó, tại miền nam, hầu hết nông dân được đưa vào HTX và tập đoàn sản xuất theo đúng cách làm, cách quản lý giống hệt các HTX ở miền Bắc. Kết quả là phong trào hợp tác xã ở miền Nam không được như mong muốn, những nguyên tắc cơ bản trong xây dựng HTX đã không được tôn trọng, các HTX sản xuất vốn đã yếu ớt ngày càng khó khăn gấp bội, dẫn tới nhiều HTX ngưng hoạt động. Đến giai đoạn này, mô hình HTX được xây dựng bằng con đường tập thể hóa đã được đẩy mạnh đến trình độ cao nhất và cũng đã được bộc lộ rõ nét, đầy đủ nhất những khuyết điểm của nó. Tình trạng thất thoát tiền vốn, tài sản trở thành phổ biến, hiệu quả kinh tế của các HTX giảm sút.
Diện tích ruộng đất bị bỏ hoang ngày càng nhiều, chi phí sản xuất tăng vọt, các ngành nghề làm ăn thua lỗ. Thực trạng ấy đã làm cho xã viên trễ nải công việc tập thể, dồn sức đầu tư vào mảnh đất phần trăm. Kinh tế phụ gia đình tuy bị thu hẹp đến mức tối đa nhưng lại trở thành nguồn thu nhập chủ yếu, quan trọng nhất của nông dân. Trong thực tiễn hoạt động của HTX trong suốt những năm 70 của thế kỉ XX đã bộc lộ một số khó khăn, yếu kém như quá chú trọng tập thể hóa mà không coi trọng đúng các quan hệ lợi ích giữa tập thể và hộ gia đình cũng như bản thân xã viên, phương thức quản lý kém hiệu quả, xã viên không còn gắn bó với HTX, ruộng đất, tài sản không còn sử dụng một cách có hiệu quả, qui mô HTX càng được mở rộng thì tình trạng lãng phí và vô chủ ngày càng trầm trọng, các chính sách của Nhà nước chậm được sửa đổi cho phù hợp, công tác tổ chức và quản lý của HTX mang nặng tính chất hành 11 chính cứng nhắc, làm sai lệch bản chất kinh tế đích thực của nó, thậm chí HTX bị coi như là một tổ chức xã hội.
Ngày 13/10/1981, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị 100 – CT/TW Cải tiến công tác khoán, mở rộng “khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động” trong hợp tác xã nông nghiệp. Nhưng sau một thời gian, động lực được tạo ra từ chỉ thị 100 – CT/TW bị giảm dần do cơ chế quản lý HTX vẫn bị chi phối bởi các cơ chế tập trung quan liêu bao cấp của Nhà nước. Đến đại hội 6, Đảng ta đã xác định đường lối đổi mới nền kinh tế, thừa nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế trong thời kì quá độ, từ đó kinh tế tập thể mà nòng cốt là HTX đã được xem xét dưới tư duy mới. Kinh tế hộ được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ và HTX bắt đầu được nhìn nhận dưới cấu trúc mới, bao gồm cả kinh tế tập thể và kinh tế hộ gia đình xã viên.
Bộ Chính trị (khóa VI) đã ra nghị quyết 10 – NQ/TW về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp với nội dung chủ yếu là tổ chức lại sản xuất trong các HTX, xác định rõ vai trò của kinh tế hộ gia đình xã viên trong phát triển kinh tế tập thể. Kể từ đây, kinh tế hộ gia đình được công nhận là đơn vị kinh tế tự chủ, tồn tại lâu dài, là bộ phận cấu thành của kinh tế tập thể. Nghị quyết 10- NQ/TW của Bộ Chính trị đã kéo theo sự thay đổi rõ rệt cơ chế quản lý HTX. Kinh tế hộ được quyền chủ động sản xuất, kinh doanh, HTXNN chỉ thực hiện những khâu, công việc mà hộ kinh tế làm không hiệu quả hoặc không làm được.