Phần Mở đầu. - Mục lục và Danh mục tài liệu tham khảo. - Nội dung Luận văn gồm kết cấu 3 chương: + Chƣơng 1: Cơ sở khoa học của quản lý nhà nước đối với kinh tế tập thể. + Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với kinh tế tập thể trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
+ Chƣơng 3: Giải pháp quản lý nhà nước đối với kinh tế tập thể trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn từ nay đến năm 2025. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI KINH TẾ TẬP THỂ 1. KHÁI QUÁT VỀ KINH TẾ TẬP THỂ 1. Một số khái niệm Kinh tế tập thể thường gắn với một cộng đồng dân cư nhất định.
Lợi ích kinh tế tập thể đưa lại là điều kiện tạo sự ổn định và gắn kết giữa các cá nhân trong cộng đồng. Thông qua kinh tế tập thể, các thành viên có thể cùng nhau giải quyết các vấn đề trong cuộc sống như thăm hỏi, động viên, giúp đỡ nhau những lúc ốm đau, khó khăn, hoạn nạn…Kinh tế tập thể mà nòng cốt là các hợp tác xã không có mục đích tự thân mà hướng đến phục vụ mục tiêu cải thiện hoạt động kinh tế và đời sống của thành viên, hợp tác xã không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa về mặt chính trị, xã hội tạo sự gắn kết, hòa hợp cá nhân trong cộng đồng. Đây là những giá trị và nguyên tắc văn hóa, nhân văn làm nên sức sống lâu bền của kinh tế tập thể. Vì vậy có thể đưa ra khái nhiệm về kinh tế tập thể như sau: 1.
Khái niệm kinh tế tập thể Kinh tế tập thể mà nòng cốt là các hợp tác xã là thành phần kinh tế dựa trên hình thức sở hữu tập thể và sở hữu của các thành viên, thể hiện sự liên kết tự nguyện của những người lao động nhằm kết hợp sức mạnh của từng thành viên với sức mạnh tập thể để giải quyết có hiệu quả những vấn đề của sản xuất và đời sống. Khái niệm hợp tác xã - Trên thế giới, hợp tác xã đã có lịch sử gần 200 năm phát triển liên tục; bản chất của hợp tác xã thể hiện sinh động trong định nghĩa pháp lý về tổ chức hợp tác xã đã được Liên minh hợp tác xã quốc tế (ICA) định nghĩa: “Hợp tác xã là tổ chức/hiệp hội tự chủ của các cá nhân liên kết với nhau một cách tự nguyện nhằm đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung về kinh tế, xã hội và văn hóa thông qua một doanh nghiệp được sở hữu chung và được kiểm soát một cách dân chủ”; 8 như vậy, thành viên hợp tác xã có vai trò kép: vừa là chủ sở hữu vừa là khách hàng của hợp tác xã; tổ chức hợp tác xã cũng là một tổ chức có vai trò kép là một tổ chức hoặc một hiệp hội, vừa là doanh nghiệp tạo ra sản phẩm vừa là doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ chung cung cấp cho thành viên hợp tác xã. - Tại Việt Nam, từ Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) tại Điều 20 nêu: “Kinh tế tập thể do công dân góp vốn, góp sức hợp tác sản xuất, kinh doanh được tổ chức dưới nhiều hình thức trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi. Nhà nước tạo điều kiện để củng cố và mở rộng các hợp tác xã hoạt động có hiệu quả”; tuy nhiên, căn cứ vào tình hình, đặc điểm kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ, định nghĩa về hợp tác xã cũng có sự điều chỉnh, cụ thể: - Luật Hợp tác xã năm 2012 (Luật hiện hành) định nghĩa: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, có ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập, hợp tác và tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã”.
Như vậy, định nghĩa hợp tác xã của Liên minh Hợp tác xã quốc tế hay Luật Hợp tác xã của Việt Nam đều được thể hiện một số nội dung cơ bản về hợp tác xã: - Là tổ chức kinh tế do các thành viên tự nguyện thành lập. - Nhằm mục đích phục vụ nhu cầu và nguyện vọng chung của thành viên về kinh tế, xã hội và văn hóa. - Hoạt động tuân theo các nguyên tắc hợp tác xã. Khái niệm tổ hợp tác Theo Nghị định 151/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2007 của Chính phủ, định nghĩa tổ hợp tác, như sau: “Tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác có chứng thực của uỷ ban nhân dân cấp xã của từ ba cá nhân trở lên, cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm”.
Đặc điểm của kinh tế tập thể 1. Đặc điểm của kinh tế tập thể nói chung - Về sở hữu tập thể: kinh tế tập thể với nhiều hình thức đa dạng, mà nòng cốt là hợp tác xã dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể; liên kết rộng rãi những người lao động, các hộ sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của các thành phần kinh tế; không giới hạn quy mô và địa bàn hoạt động; phân phối theo lao động, theo vốn góp và mức độ tham gia dịch vụ. - Về lợi ích thể tập thể: kinh tế tập thể lấy lợi ích kinh tế làm chính, bao gồm lợi ích thành viên và lợi ích tập thể, đồng thời coi trọng lợi ích xã hội, góp phần xoá đói, giảm nghèo, tiến lên làm giàu cho các thành viên. Đặc điểm của hợp tác xã Theo tiếng Anh, “hợp tác xã” là “cooperative” có nguồn gốc “cooperation” - tức là “hợp tác”; khu vực hợp tác xã được một số nhà lý luận coi là khu vực thứ ba bên cạnh khu vực tư và khu vực công, hợp tác xã là một loại quan hệ xã hội phổ biến trong xã hội loài người; đặc điểm của sự hợp tác thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau: - Thành viên có nhu cầu chung, mà từng thành viên làm thì không đạt hiệu quả cao hoặc từng thành viên không thể làm được; do đó, họ phải hợp tác với nhau để đáp ứng yêu cầu chung ấy để có hiệu quả hơn; nhu cầu chung là cái đầu tiên, căn bản đưa đến hợp tác thông qua hợp tác xã; xã hội ngày càng phát triển thì ngày càng có nhiều nhóm xã hội có nhu cầu chung xuất phát từ hoạt động kinh tế, nghề nghiệp và đời sống của mình.
- Các thành viên vẫn giữ được tính độc lập, tự chủ của mình trong quá trình hợp tác; hợp tác xã thỏa mãn cái “chung” cho mọi thành viên, nhưng không triệt tiêu cái “riêng” của từng thành viên; thành viên vẫn là chủ thể độc lập của hợp tác xã. - Các thành viên có vai trò bình đẳng trong việc hợp tác với nhau trên cơ sở trách nhiệm và nghĩa vụ tương tự nhau trong việc đảm bảo cho sự hợp tác đó; do vậy, dân chủ trong tổ chức hợp tác xã được hình thành và phát triển. 10 Đặc điểm này của hợp tác xã là phổ biến trên toàn thế giới và đang là xu thế phát triển mới ngày càng rõ nét ở nước ta, là cơ sở để hiện thực hóa các giá trị cao đẹp và các nguyên tắc hợp tác xã. * Các điểm khác nhau giữa hợp tác xã kiểu cũ và hợp tác xã kiểu mới - Thứ nhất, về đối tượng tham gia: + Trong hợp tác xã kiểu cũ, thành viên hợp tác xã chỉ gồm các cá nhân.
+ Trong hợp tác xã kiểu mới, thành viên gồm cả cá nhân, hộ gia đình và pháp nhân, cả người có ít vốn và nhiều vốn có nhu cầu tự nguyện cùng nhau lập ra và tự chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình theo quy định của pháp luật về hợp tác xã. - Thứ hai, về sở hữu: + Trong hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ, sở hữu cá nhân của người nông dân không được thừa nhận, sở hữu của các hộ gia đình bị xóa bỏ, chỉ thừa nhận chế độ sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất; người nông dân vào hợp tác xã phải góp ruộng đất, trâu bò, công cụ sản xuất chủ yếu. + Trong hợp tác xã kiểu mới, sở hữu tập thể và sở hữu cá nhân của thành viên được phân định rõ; sở hữu tập thể (sở hữu của hợp tác xã) bao gồm các nguồn vốn tích lũy tái đầu tư, các tài sản do tập thể mua sắm dùng cho hoạt động hợp tác xã, tài sản trước đây được giao lại cho tập thể sử dụng và tài sản do nhà nước hoặc các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước làm tài sản không chia và các quỹ không chia; thành viên tham gia hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới không phải góp ruộng đất và các công cụ sản xuất mà điều kiện tiên quyết là phải góp vốn theo quy định của điều lệ hợp tác xã, không được vượt quá 20% so với tổng số vốn góp của các thành viên (vốn điều lệ của hợp tác xã); vốn góp của thành viên được chia lãi hàng năm theo quy định của điều lệ hợp tác xã và được rút khi thành viên ra hợp tác xã. - Thứ ba, về quan hệ quản lý: 11 + Trong hợp tác xã kiểu cũ, quan hệ giữa xã viên và hợp tác xã là quan hệ phụ thuộc, xã viên đã bị tách khỏi tư liệu sản xuất và trở thành người làm công theo sự điều hành của hợp tác xã, tính chất hợp tác đích thực trong hợp tác xã không còn.
+ Trong hợp tác xã kiểu mới, quan hệ giữa hợp tác xã và thành viên là quan hệ bình đẳng, thỏa thuận, tự nguyện, cùng có lợi và cùng chịu rủi ro trong sản xuất, kinh doanh; hộ xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ, tự điều hành lao động của gia đình, tự quyết định bố trí sản xuất cây trồng, vật nuôi phù hợp với thế mạnh của từng hộ, tự mua vật tư để đầu tư vào sản xuất, kinh doanh của hộ xã viên, không điều hành, chỉ huy từng khâu, từng việc hàng ngày như trước, mà chuyển sang làm dịch vụ theo yêu cầu của hộ gia đình.