CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH 1. Khái quát quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh 1. Khái niệm hộ kinh doanh Tự do kinh doanh là một quyền của công dân trong xã hội. Pháp luật tạo ra khuôn khổ pháp lý để các cá nhân có thể tự do lựa chọn các loại hình kinh doanh phù hợp.
Muốn hoạt động kinh doanh có hiệu quả, ngoài năng lực quản lý, nguồn vốn dồi dào, ngành nghề kinh doanh phù hợp thì việc lựa chọn đúng loại hình kinh doanh là điều kiện vô cùng quan trọng. Bên cạnh các loại hình doanh kinh doanh mang tính quy mô như: doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, hợp tác xã, liên hợp tác xã thì với trình độ quản lý cơ bản, kinh doanh sản xuất theo hướng bản năng, nhỏ, lẻ, muốn gia nhập vào thị trường thì hộ kinh doanh là một trong những lựa chọn hàng đầu đối với những đối tượng này. Hiện nay, hộ kinh doanh được quy định tại điều 66, Nghị định 78/2015/NĐ-CP về đăng ký kinh doanh: “Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh”. Quy định này cho thấy pháp luật không đưa ra khái niệm thể hiện đầy đủ bản chất của loại hình kinh doanh này mà đưa ra quy định về chủ thể thành lập, địa điểm kinh doanh, vấn đề lao động và chế độ chịu trách nhiệm của hộ kinh doanh.
Từ quy định này, có thể nhận diện hộ kinh doanh trên các phương diện sau: 7 Thứ nhất, dựa vào chủ thể thành lập hộ kinh doanh, có thể phân loại hộ kinh doanh thành ba loại: Hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ, hộ kinh doanh do một nhóm người, hộ kinh doanh do hộ gia đình làm chủ. Đối với hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ: Cá nhân thành lập hộ kinh doanh phải là công dân Việt Nam, đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ đáp ứng đầy đủ các quy định về ngành nghề đăng ký kinh doanh có thể đăng ký thành lập hộ kinh doanh. Đối với hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ: Pháp luật Việt Nam chưa có quy định về số lượng tối đa và số lượng tối thiểu các thành viên khi thành lập hộ kinh doanh trong trường hợp hộ kinh doanh do một nhóm cá nhân làm chủ. Mà chỉ quy định nhóm người đều là công dân Việt Nam, đáp ứng đầy đủ các điều kiện của pháp luật có thể đăng ký hộ kinh doanh.
Có thể do nhận thức được vai trò quan trọng của hộ kinh doanh, nên pháp luật đã có quy định mới cho phép hộ kinh doanh được thành lập bởi một nhóm người nhằm mở rộng đối tượng thành lập đối với hộ kinh doanh. Tuy nhiên đối với hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ, pháp luật chưa quy định một cách cụ thể quyền và nghĩa vụ của các thành viên nên trong một số trường hợp, việc diễn ra tranh chấp giữa các thành viên vẫn còn là một vấn đề bất cập và đang bị bỏ ngõ. Đối với hộ kinh doanh do hộ gia đình làm chủ sỡ hữu: hộ gia đình là một chủ thể đặc biệt của pháp luật Việt Nam vì chủ thể tham gia vào các quan hệ Dân sự là cá nhân, pháp nhân. Theo quy định tại Bộ luật Dân sự 2005 thì: “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia vào các quan hệ dân sự thuộc lĩnh vực này”[26, Điều 106].
Tuy nhiên, pháp 8 luật hiện nay chưa đưa ra khái niệm cụ thể hay cách thức xác định các tiêu chí xác lập hộ gia đình. hộ gia đình không phải là chủ thể của các quan hệ Dân sự, khi tham gia vào các quan hệ này đều do người đại diện theo pháp luật của hộ xác lập. Thứ hai, hộ kinh doanh thường kinh doanh với quy mô nhỏ, sử dụng không quá 10 lao động, chỉ được đăng ký thành lập một hộ kinh doanh trong phạm vi cả nước Theo quy định của pháp luật Việt Nam, hộ kinh doanh không được sử dụng quá 10 lao động. Pháp luật quy định trong trường hợp sử dụng quá 10 lao động thì phải đăng ký doanh nghiệp.
Có thể các nhà làm luật quy định như vậy nhằm mục đích khuyến khích hộ kinh doanh thành doanh nghiệp trong trường hợp hộ kinh doanh có quy mô tương đối, đồng nghĩa với việc sử dụng hơn 10 lao động một cách thường xuyên, liên tục. Hộ kinh doanh được đăng ký một địa điểm kinh doanh trên phạm vi toàn quốc, nên trong trường hợp muốn mở chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh, hộ kinh doanh phải thực hiện việc chuyển đổi thành doanh nghiệp tương ứng. Thứ ba, hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân Theo quy định tại điều 74, Bộ luật dân sự 2015 thì để một tổ chức có tư các pháp nhân phải đáp ứng 4 điều kiện: Được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản riêng độc lập với các cá nhân, pháp nhân khác và nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập [29,Điều 74]. Hộ kinh doanh do một cá nhân, hộ gia đình hay nhóm người làm chủ thì không có sự tách bạch giữa tài sản của hộ kinh doanh và tài sản của cá nhân, hộ gia đình hay nhóm người tạo lập ra nó đồng thời chịu trách nhiệm vô hạn tức là chịu trách nhiệm đối với toàn bộ nghĩa vụ tài chính của 9 hộ kinh doanh, hưởng toàn bộ lợi nhuận sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.
Do đó không có sự tách bạch giữa tài sản của hộ kinh doanh và tài sản của chủ hộ kinh doanh. Đối với hộ kinh doanh do cá nhân làm chũ sỡ hữu thì cá nhân đó là nguyên đơn, bị đơn trong các vụ án liên quan tới hoạt động của hộ kinh doanh. Đối với hộ kinh doanh doanh do hộ gia đình làm chủ thì người đại diện chịu trách nhiệm đối với hoạt động của hộ kinh doanh. Đối với hộ kinh doanh, cơ cấu tổ chức cũng tương đối đơn giản, pháp luật cũng không quy định một cách cụ thể về cơ cấu tổ chức, quy chế hoạt động, mà chủ yếu căn cứ vào sự thỏa thuận của các thành viên (trong trường hợp là một nhóm người hoặc hộ gia đình làm chủ), do đó không đáp ứng đầy đủ các điều kiện để trở thành một pháp nhân theo quy định của pháp luật hiện hành.
Thứ tư, chủ hộ kinh doanh chịu trách nhiệm vô hạn trong hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh Hộ kinh doanh không là một chủ thể độc lập tham gia vào các quan hệ dân sự. Theo quy định, hộ kinh doanh phải “chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh” [13, Điều 66]. Điều này có nghĩa là chủ hộ kinh doanh phải chịu trách nhiệm đến cùng đối với các nghĩa vụ tài sản phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh kể cả những tài sản cá nhân không phải là vốn khi đăng ký thành lập hộ kinh doanh. Trong trường hợp hộ kinh doanh do hộ gia đình làm chủ thì căn cứ vào điều 103 và Điều 288 Bộ luật Dân sự 2015 thì đối với hộ gia đình, nghĩa vụ của hộ gia đình được “bảo đảm thực hiện bằng tài sản chung của các thành viên”, [29, Điều 103] “trong trường hợp tài sản chung không đủ để thực hiện các nghãi vụ tài chính, thì người có quyền có thể yêu cầu bất kì ai trong hộ gia đình thực hiện nghĩa vụ đó”.
Khái niệm quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh Quản lý nhà nước được hiểu là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước được tiến hành bởi các cơ quan nhà nước nhằm xác lập một trật tự ổn định, phát triển xã hội theo các mục tiêu mà nhà nước đã hoạch định. Hoạt động quản lý nhà nước là tổng thể các hoạt động vận hành thống nhất của cả bộ máy nhà nước gồm sự phối hợp giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và cơ quan tư pháp. Hoạt động quản lý nhà nước do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện bằng công cụ chính sách, pháp luật và được đảm bảo bằng cưỡng chế nhà nước. Nói cách khác, hoạt động quản lý nhà nước là hoạt động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước sử dụng các công cụ quản lý nhà nước (hệ thống pháp luật, chính sách kinh tế) tác động lên đối tượng quản lý nhằm thực hiện chức năng nhà nước.
Trong hoạt động quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh thể hiện mối quan hệ giữa hai chủ thể: chủ thể mang quyền lực nhà nước (cơ quan nhà nước có thẩm quyền) tác động lên đối tượng quản lý (hộ kinh doanh) để thực hiện chức năng nhà nước. Như vậy, có thể hiểu quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh là hoạt động quản lý nhà nước bằng hình thức ban hành pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật để quản lý hộ kinh doanh trên tất cả các phương diện để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kinh tế, dụng có hiệu quả nhất nguồn lực, phát huy và nâng cao hiệu quả hoạt động của hộ kinh doanh trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nguyên tắc quản lý nhà nước đối với hộ kinh doanh Nguyên tắc có thể hiểu đó là các nội dung đã được định sẵn, và phải được tuân theo trong một loạt các công việc. Trong quá trình quản lý hành 11 chính nhà nước, các nguyên tắc quản lý được hiểu là các tư tưởng chủ đạo, được bắt nguồi từ cơ sở khoa học của hoạt động quản lý nhà nước, từ bản chất của nhà nước và được quy định trong Hiến pháp, luật, làm cơ sở cho hoạt động quản lý hành chính nhà nước.