phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án gồm 4 chương, 12 tiết. 8 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA NƢỚC NGOÀI Biên giới đất liền luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu đối với mỗi quốc gia, vì vậy các hoạt động ở khu vực này bao gồm cả các hoạt động về kinh tế, thương mại và an ninh… cũng đ c biệt được chú trọng. Do đó, đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết, hội thảo, báo cáo… về đề tài phát triển kinh tế cửa khẩu ở ngoài nước, dưới đây là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu: 1.
Các công trình nghiên cứu về chính sách phát triển kinh tế cửa khẩu Toward a New Frontier, Improving the U. Bài viết của Tiến sĩ Christopher Sands (là một thành viên cao cấp tại Viện Hudson, chuyên về mối quan hệ Mỹ - Canada và hội nhập kinh tế khu vực Bắc Mỹ) đề cập đến Hiệp định mậu dịch tự do Bắc Mĩ năm 1994 (NAFTA) đã từng trở thành nền tảng cho sự thống nhất về kinh tế và chính trị giữa ba quốc gia từ việc phát triển thương mại giữa hai bên biên giới Mỹ - Canada và Mỹ - Mexico, những tác động quan trọng của việc phát triển thương mại đối với các cộng đồng xung quanh khu vực biên giới. Christopher Sands đã phân tích thực trạng quản lý biên giới của Mỹ và Canada, chỉ ra các bất cập, hạn chế và nguyên nhân trên ba m t: Khu vực biên giới; Hoạt động của con người ở khu vực biên giới; và thẩm quyền quản lý, sự chồng chéo giữa pháp lý liên Bang và địa phương liên quan đến cải cách chính sách biên giới. Từ đó, tác giả đã đề xuất các cải cách để các bên liên quan ở cả hai nước hoạch định chính sách, xây dựng một mô hình quản lý mới để khu vực biên giới của Mỹ và Canada hoạt động có hiệu quả và an toàn hơn như: Kiểm tra và phân cấp quản lý biên giới ở mức độ lớn hơn, phân bổ nguồn lực một cách linh hoạt hơn, thiết lập các điều kiện thuận lợi đáp ứng cho nhu cầu đa dạng của các hoạt động ở khu vực biên giới mà không phạm đến quyền lợi an 9 ninh quốc gia.
Các chính sách này được thực thi s tạo nên sự đồng thuận biên giới mới của bao gồm các bên liên quan ở cả hai bên biên giới, hướng tới giải quyết nhanh chóng hầu hết các mối quan tâm về biên giới của các bên liên quan nhằm tăng sức cạnh tranh của cả hai quốc gia. The Cross Border Economies of Cambodia, Laos, Thailand and Vietnam (Các nền kinh tế biên giới của Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam) [68]. Đây là nghiên cứu trong khuôn khổ dự án mạng lưới phát triển (DAN) được điều phối bởi Viện Phát triển nguồn Campuchia (CDRI) do Quỹ Rockefeller tài trợ, với sự đóng góp của các viện nghiên cứu phát triển hàng đầu tại Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam, nhóm tác giả gồm: KAS Murshid và Sokphally (Trung Tâm nghiên cứu cao cấp - Viện Phát triển nguồn Campuchia, Phnom Penh); Leeber Leebouapao, bà Phonesaly Souksavath, bà Phetsamone Sone, ông Souphith Darachanthara và ông Vanthana Norintha (Trung tâm Thống kê Quốc gia - Viện nghiên cứu kinh tế (Neri), Viêng Chăn); Worawan Chandoevwit, Yongyuth Chalamwong và Srawooth Paitoonpong (Viện Tài nguyên Phát triển Thái Lan - TDRI); Nguyễn Thị Kim Dung (Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế (CIEM), Hà Nội); Cù Chi Lợi (Viện Kinh tế, Hà Nội). Nghiên cứu này đã giới thiệu một cách tổng quát kinh tế biên giới các nước Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam (CLTV), các chính sách và các thỏa thuận thương mại biên giới, các biện pháp tạo thuận lợi và chi phí giao dịch cho hàng hóa, phương tiện và người qua cửa khẩu các nước CLTV, cấu trúc và hoạt động thương mại cũng như các tác động đối với phúc lợi của hộ gia đình, đ c biệt là những người sống dọc theo khu vực biên giới các nước này.
Cả bốn quốc gia đều xác định phát triển kinh tế biên giới là rất quan trọng. Thái Lan với tầm nhìn lớn về phát triển kinh tế biên giới và tham vọng biến mình thành một trung tâm kinh tế khu vực. Việt Nam coi phát triển kinh tế qua biên giới như một chiến lược quan trọng, đã thành lập và ban hành các chính sách phát triển các khu kinh tế cửa khẩu dọc biên giới của mình. Campuchia và Lào nhận thức được vị trí chiến lược của họ giữa hai quốc gia lớn hơn là Việt Nam và Thái Lan, mong muốn mở rộng tiếp cận thị trường trong khu vực.
Mỗi quốc gia đã thiết lập các cơ hội mới để biên giới trở nên cởi mở hơn. 10 Tuy nhiên, cả bốn nước này đều đang hội nhập khu vực và toàn cầu hóa, đồng thời cũng nhận thức rất rõ về sự cần thiết để xây dựng một cách hiệu quả nền kinh tế thị trường cạnh tranh trên cơ sở lợi thế so sánh của quốc gia mình. Thương mại qua biên giới ngày càng được xem như là một phương tiện để thúc đẩy hội nhập khu vực và là một cách để chuẩn bị cho nhiều chính sách kinh doanh tự do hơn, cởi mở hơn, ví dụ như là thành viên của ASEAN, AFTA, APEC và WTO. Kinh nghiệm cho thấy đến nay một số nước (như Việt Nam) đã coi trọng phát triển kinh tế cửa khẩu và và đã đạt được nhiều thành công đáng kể.
Regional Economic Impacts of Cross - Border Infrastructure: A General Equilibrium Application to Thailand and Lao PDR (Tác động kinh tế của cơ sở hạ tầng xuyên biên giới: Mô hình cân bằng với Thái Lan và Lào) [71]. Trong bài viết này, các tác giả đã sử dụng mô hình cân bằng để nghiên cứu tác động về kinh tế của chính sách phát triển cơ sở hạ tầng khu vực biên giới giữa Lào và Thái Lan đối với sự phát triển của thương mại. Các tác giả đã nhấn mạnh tầm quan trọng của mạng lưới đường cao tốc trong việc thúc đẩy dòng hàng hóa lưu thông cũng như thu hút đầu tư nước ngoài ở các nước Tiểu vùng sông Mê-kông mở rộng (GMS). Phát triển cơ sở hạ tầng tại các khu vực cửa khẩu có thể làm giảm thời gian trung chuyển hàng hóa và giảm các phát sinh chi phí tại cửa khẩu.
Bài viết tập trung phân tích các lợi ích kinh tế từ cây cầu quốc tế thứ hai (cầu Hữu Nghị II) bắc qua dòng sông Mê-kông giữa tỉnh Mukdahan của Thái Lan và tỉnh Savannakhet ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Từ đó, các tác giả đã chỉ ra rằng: cơ sở vật chất tại các cửa khẩu (hạ tầng cửa khẩu) không chỉ giảm chi phí vận chuyển mà còn tiết kiệm thời gian qua sông, giảm nhiều chi phí cho người dân và doanh nghiệp, tạo điều kiện cho phát triển du lịch không chỉ giữa Thái Lan và Lào mà còn cả đối với giữa Thái Lan và Việt Nam (quá cảnh qua Lào). Ngoài ra, chính sách phát triển cơ sở hạ tầng cửa khẩu đúng đắn s tạo điều kiện để thu hút các ngành công nghiệp vào khu vực cửa khẩu, tạo công ăn việc làm, gia tăng các sản phẩm cũng như thu nhập cho người dân ở khu vực cửa khẩu, góp phần giảm tỷ lệ nghèo đói… 11 1. Các công trình nghiên cứu về hợp tác kinh tế biên giới Cross Border Economic zone Roadmap-Developing Cross-Border Economic Zones Between the PRC and Viet Nam (Lộ trình khu kinh tế xuyên biên giới - phát triển các khu kinh tế xuyên biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam) [69], là báo cáo kỹ thuật trong khuôn khổ Dự án hỗ trợ kỹ thuật của Ngân hàng Phát triển châu Á về "Phát triển các KKT xuyên biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam".
Dự án này nhằm hỗ trợ cho việc thực hiện chiến lược và kế hoạch hành động về Hành lang kinh tế Bắc - Nam bằng cách phát triển các KKT xuyên biên giới tại Hà Khẩu - Lào Cai và Bằng Tường - Đồng Đăng, dọc theo biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam. Báo cáo này đã nghiên cứu hiện trạng và phân tích các xu hướng phát triển thương mại song phương cũng như thương mại biên mậu giữa Việt Nam và Trung Quốc. Hiện trạng phát triển KT-XH và các đ c điểm của khu vực hai bên các c p cửa khẩu Hà Khẩu - Lào Cai và Bằng Tường - Đồng Đăng. Đồng thời phác thảo về mô hình KKT xuyên biên giới, các khái niệm và luận giải lý do tại sao nên phát triển các KKT xuyên biên giới, coi đây là một cách hữu hiệu để thu hút đầu tư nhất là từ khu vực kinh tế tư nhân vào khu vực biên giới vốn đang còn rất khó khăn, đ c biệt các KKT xuyên biên giới s góp phần quan trọng vào việc đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi các hành lang giao thông thành hành lang về dịch vụ hậu cần và hành lang kinh tế.
Từ đó đề xuất việc thành lập hai KKT xuyên biên giới Hà Khẩu - Lào Cai và Bằng Tường - Đồng Đăng cũng như các giải pháp và lộ trình để hình thành và phát triển hai KKT xuyên biên giới này. Institutional Development and Capacity Building - developing cross- border economic zones between the PRC and Viet Nam (Phát triển thể chế và tăng cường năng lực - Dự án Phát triển các KKT xuyên biên giới giữa Trung quốc và Việt Nam) [70]. Đây là báo cáo của chuyên gia hỗ trợ kỹ thuật trong khuôn khổ dự án Phát triển các KKT xuyên biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam do Ngân hàng Phát triển châu Á tài trợ. Chủ trì là Robert L.
Wallack, chuyên gia tư vấn quốc tế, Hoa Kì; Người hỗ trợ là Wei Zhaohui, chuyên gia tư vấn Trung Quốc và Nguyễn Anh Thu, chuyên gia tư vấn của Việt Nam. Tác giả đã nghiên cứu các kinh nghiệm về hợp tác kinh tế cửa khẩu ở châu Âu, Bắc Mĩ 12 và châu Á, thực trạng quản lý Khu kinh tế của Trung Quốc và Việt Nam, và đưa ra một khung thể chế sơ bộ của KKT xuyên biên giới. Bằng nghiên cứu của mình, tác giả cho rằng việc xây dựng KKT xuyên biên giới đóng vai trò quan trọng để thu hút đầu tư và cải thiện cán cân thương mại giữa Trung Quốc và Việt Nam dọc theo hai hành lang kinh tế Bắc - Nam và tiểu vùng sông Mekông mở rộng. Các vấn đề nổi bật nhất của bản báo cáo này là: - Kinh nghiệm của quốc tế cho phát triển KKT xuyên biên giới.
- Đề xuất các thể chế cho các KKT xuyên biên giới trong giai đoạn đầu tiên, trong đó lấy việc xây dựng các cảng cạn là trọng tâm của thể chế.